Enter your keyword

Put your ad code here

Trường Sơn bên nắng, bên mưa (Bài 4)

By On tháng 9 05, 2017
Bài 4: Làng Ho

(QBĐT) - Cũng như Làng Mô - Trường Sơn, Làng Ho (xã Kim Thủy) nằm ngay trên đường Hồ Chí Minh nhánh phía tây, một địa danh kiêu hùng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nơi gặp gỡ những con đường ra trận: đường 10 từ Áng Sơn lên; đường 16 từ Thạch Bàn qua rồi cùng nhau thẳng tiến vào nam.

< Trạm quân dân y và nhà văn hóa bản Làng Ho, xã Kim Thủy được xây dựng khang trang.

Hết bản Chân Trôộng (xã Trường Sơn), đường Hồ Chí Minh chạm đất Lệ Thủy qua các bản: Mới, Tân Ly, Tăng Ký, Xà Khía (xã Lâm Thủy); Mít, Ho, Rum (xã Kim Thủy). Như vậy kể từ khi khởi hành từ km số 0 ở ngã ba Xuân Trạch, đến lúc đứng cạnh Bia di tích lịch sử Làng Ho, tôi đã vượt 200km đường Trường Sơn.

Những già làng bản Trung Đoàn (một tên gọi khác của Làng Ho, nhưng tôi vẫn trân trọng giữ nguyên địa danh Làng Ho trong bài viết), bản Rum vẫn nhớ như in một thời lửa đạn: “Khí thế cách mạng dâng lên hừng hực trong mỗi trái tim người Vân Kiều Làng Ho nói riêng và đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống dọc hệ thống đường Hồ Chí Minh nói chung.
Dulichgo
Khi Đoàn 559 quyết định chọn Làng Ho làm điểm tập kết vũ khí, đạn dược để gùi thồ vượt đèo 1001 vào Khe Hó (Vĩnh Linh, Quảng Trị) chi viện cho chiến trường, đồng bào Vân Kiều mang họ Bác Hồ nhường cơm, sẻ áo, tháo nhà lót đường, một lòng trung trinh theo Đảng.

Từ điểm tập kết nhỏ ban đầu, Làng Ho dần trở thành hậu cứ Binh trạm 27, Đoàn 559, chuẩn bị mọi lực lượng cho chiến dịch Khe Sanh, Mậu Thân 1968, chiến dịch Đường 9 - Nam Lào”.

Bia di tích lịch sử đặt tại Làng Ho ghi rõ: “Làng Ho, tháng 10 năm 1959 được chọn đặt sở chỉ huy tiền phương Đoàn 559, là điểm xuất phát đường gùi thồ chi viện cho chiến trường Trị Thiên và khu 5 từ 1959 đến 1962. Năm 1966, 1967, bộ đội, thanh niên xung phong Trường Sơn mở đường cơ giới Thạch Bàn- Làng Ho; Làng Ho - Khe Sanh; Làng Ho - Bản Đông (Lào) chuẩn bị cho chiến dịch Khe Sanh và Mậu Thân 1968. Làng Ho là nơi tập kết lực lượng chuẩn bị đánh đường 9 Nam Lào 1971”.

Sau ngày hòa bình lập lại, người Làng Ho kiên trinh về đất xưa bị bom đạn đào xới, từ hố bom, tro tàn, đồng bào chung sức cất nhà, dựng bản. Bây giờ dân số Làng Ho gần 40 nóc nhà, khoảng 200 nhân khẩu. Mấy chục năm trôi qua, người Vân Kiều Làng Ho nghèo vẫn hoàn nghèo. Trai tráng đến mùa vào rừng đặt bẫy, săn mật ong. Phụ nữ ở nhà ngày ngày trầm mình dưới con suối chảy qua bản đãi vàng; kiếm vài con cá tong teo, mò cua bắt ốc cải thiện thêm bữa ăn đạm bạc. Cuộc sống đói nghèo ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm này tiếp nối năm khác...

Cho đến một ngày Làng Ho chuyển mình. Chương trình Nghĩa tình Trường Sơn do báo Sài Gòn giải phóng khởi xướng nhận được sự giúp đỡ của Tổng Công ty Bia rượu - Nước giải khát Sài Gòn quyết định đầu tư xây dựng Làng Ho thành một bản kiểu mẫu.

Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh được chọn phụ trách nhiệm vụ cao cả này. Dự án bắt đầu khởi động từ tháng 4-2011 với việc làm mới, sửa chữa 36 căn nhà; xây dựng trạm xá quân dân y kết hợp; xây dựng nhà vệ sinh; đường giao thông, cổng chào vào bản... Tổng trị giá toàn bộ dự án 3 tỷ đồng.
Dulichgo
Bản mới hoàn thành trong niềm vui vô cùng tận của người Vân Kiều Làng Ho. Mỗi năm, ít nhất tôi có một lần ngược đường Hồ Chí Minh lên trao quà từ thiện cho học sinh Vân Kiều Làng Ho. Bà con xem tôi như người thân trong bản. Hồ Un, người Làng Ho chân tình: “Nhà cửa khang trang có rồi... người Làng Ho khát cái vốn đề sản xuất, cái đất để trồng trọt, con giống chăn nuôi.

Phải mần răng thoát nghèo, chứ bám vào nhà nước mãi, cái bụng không ưng- Hồ Un chỉ lên những cột điện sừng sững bám theo dọc bên đường- “Khát một điều nữa là công trình điện thắp sáng tới tận bản rồi mà không thấy ánh sáng văn minh đâu. Bà con đêm đêm vẫn dùng những ngọn đèn dầu tù mù như cái thời ngủ lán, nằm hầm”.

Ước mơ của Hồ Un cũng là ước mơ của hơn 200 đồng bào Vân Kiều Làng Ho. Tôi còn nhớ, ngày 21-12-2015, ngày lịch sử đối với đồng bào Làng Ho khi trạm biến áp Làng Ho đóng điện, chính thức cấp điện lưới quốc gia vào tận từng hộ gia đình. Hồ Un cùng những cư dân trong bản rưng rưng không nói nên lời, chỉ biết nhắc đi nhắc lại câu cửa miệng: “Cảm ơn Đảng, cảm ơn Chính phủ nhiều nhiều”.

Tháng năm trên đường Hồ Chí Minh, ở bản Làng Ho, trẻ Vân Kiều đã kết thúc năm học. Trường TH và THCS số 2 Kim Thủy cửa đóng then cài, không còn gặp lại ông giáo hiệu trưởng Nguyễn Xuân Sửu và các thầy cô giáo một thời chung lưng kiếm từng cuốn sách, tập vở, áo quần giúp trẻ Vân Kiều đến trường chuyên cần hơn.
Dulichgo
Cũng không còn cảm giác thương đến nhói lòng khi thấy những đứa trẻ Vân Kiều sáng sáng đi học, đôi chân trần nhảy lò cò trên đường, tay xách túi ni lon đựng chút cơm, muối trắng, bữa trưa của các em tại trường. Sau khi ăn xong lại xuống suối giặt sạch, cất đi để ngày mai tiếp tục nắm cơm. Không như trẻ miền xuôi, học sinh Vân Kiều nghỉ hè, một số theo bố mẹ đi rừng, lên rẫy, số còn lại chỉ biết bám lấy mặt đường Hồ Chí Minh, đùa vui cùng nắng gió, khô khát.

Giữa cái nắng khét, những đứa trẻ Vân Kiều Làng Ho vẫn say mê nô đùa, từng đôi mắt tròn xoe ngơ ngác nhìn khách lạ. Chiều hắt từng vạt nắng cuối qua phía bên kia rặng núi thẳm, ấy là lúc tôi đến bản Rum, bản cuối cùng của đồng bào Vân Kiều miền tây Quảng Bình ở phía cực nam, giáp huyện Hướng Hóa (Quảng Trị). Từ đây, đường Hồ Chí Minh không một bóng người, xuyên giữa rừng già cỗi, thuộc địa bàn phụ trách của Ban quản lý rừng Động Châu.
(Còn Tiếp)

Trường Sơn bên nắng, bên mưa - Bài 1: Xuân Trạch-ngày của hoài niệm
Trường Sơn bên nắng, bên mưa - Bài 2: Giữa lòng di sản
Trường Sơn bên nắng, bên mưa - Bài 3: Làng Mô
Trường Sơn bên nắng, bên mưa - Bài 4: Làng Ho
Trường Sơn bên nắng, bên mưa - Bài cuối: Lời của gió nơi ngã ba Dân Chủ

Theo Ngô Thanh Long (Báo Quảng Bình)
Du lịch, GO!

Mùa giữ lúa trời của người A Rem

By On tháng 9 04, 2017
(VNE) - Cây lúa rẫy trồng trên sườn đồi, không tưới tắm hay bón phân nhưng vẫn trĩu hạt, cung cấp nguồn lương thực chính cho người A Rem.

Sau 25 năm từ giã núi rừng, sống tập trung, người A Rem đã biết lao động, trỉa lúa, trồng ngô. Ông Nguyễn Chí Sỹ, Bí thư Đảng ủy xã Tân Trạch (Bố Trạch, Quảng Bình) cho hay cả bản có ba điểm rẫy, với trên 60 hộ dân trồng lúa nương. Những đám rẫy chênh vênh giữa sườn đồi, xung quanh là cây rừng xanh tốt.

Cây lúa trồng trên đồi dốc, không cần hệ thống thủy lợi hay phân bón. Người A Rem chỉ dành ít thời gian làm cỏ. Do đó, dân bản gọi đây là lúa trời, từ nhiều đời nay được hay mất mùa đều phó mặc cho ông trời.
Dulichgo
Đất đai màu mỡ giúp cây lúa của người A Rem tốt tươi, cao quá ngực người. Người dân gieo hạt bằng cách chọc lỗ, tra hạt. Một người đi trước chọc lỗ, người theo sau gieo nắm hạt rồi lấp đất.

Ông Nguyễn Chí Sỹ nói lúa rẫy người A Rem có vị dẻo, thơm riêng biệt, "nhưng vì sản lượng không đủ ăn nên không có lúa bán ra bên ngoài". Hàng năm, người A Rem còn được cấp gạo nhờ bảo vệ 4.000 ha rừng nguyên sinh.
Dulichgo
Mùa lúa rẫy kéo dài từ tháng 2 đến tháng 10 âm lịch. Vào hai tháng cuối vụ, cây ra hoa kết hạt, hương thơm ngát trở thành miếng ăn ngon của lợn và chuột rừng. Nhằm bảo vệ lúa, nguồn lương thực chính, người A Rem kéo nhau ra dựng lán trại ở rẫy, xua đuổi những con thú phá hoại.

Họ dựng lán bằng tre và lá cây. Người A Rem không xâm hại cây rừng để dựng lán kiên cố, vì sau mùa rẫy, họ đốt nương rồi đốt luôn lán. Họ cũng không phá rừng làm rẫy mà luân phiên trên những đám rẫy đã có từ trước.

Cả vợ lẫn chồng đều xuống rẫy ở nên họ mang theo cả trẻ em, người già, chó và gà vịt. Rẫy trở thành căn nhà thứ hai, gắn bó với cuộc đời làm nông của người A Rem.
Dulichgo
Ngoài trồng lúa, người A Rem canh tác thêm cây vừng, ngô, rau khoai và một số gia vị xen giữa cây lúa. Họ cũng biết chăn nuôi, có đàn bò hàng trăm con. Nhiều gia đình sắm được tivi, xe máy, điện thoại đắt tiền.

Theo Hoàng Táo (Vnexpress)
Du lịch, GO!

Dân dã bánh sắn Bình Liêu

By On tháng 9 04, 2017
(BQN) - Nhắc đến bánh sắn, nhiều người nghĩ ngay đến bánh sắn Bình Liêu (Quảng Ninh) - một loại bánh được chế biến từ củ sắn tươi do người dân địa phương trồng. Đây là món ăn dân dã được nhiều thực khách ưa chuộng.

Theo những cụ cao niên ở Bình Liêu kể lại, trước đây, hầu như nhà nào cũng trồng rất nhiều sắn để ăn và chăn nuôi. Sắn luộc ăn mãi cũng chán, nên các bà, các mẹ đã nghĩ ra cách thưởng thức sắn thêm đa dạng: Giã sắn đã luộc làm bánh cho cả nhà ăn. Theo thời gian, cách làm bánh càng được cải thiện, đúc kết, bánh càng đẹp và ngon hơn.

Để chế biến được bánh sắn ngon, nguyên liệu được lựa chọn phải là củ sắn tươi, ngon, mới đào về đem bóc vỏ rửa sạch rồi ngâm qua khoảng vài giờ đồng hồ. Sau đó, vớt sắn ra bắc lên bếp luộc chín.

“Ngoài nguyên liệu, để làm bánh sắn ngon khâu quan trọng nhất là giã bánh. Chày giã bánh được làm bằng gỗ bào thật nhẵn, mịn và cối giã làm bằng đá. Khi sắn chín, đơm ra từng mẻ một cho vào cối giã. Sắn luộc nóng lấy ra mẻ nào giã ngay mẻ đó, để nguội độ dẻo sẽ kém. Người giã thường là những người khoẻ mạnh. Khi giã phải giơ cao chày, giã đều tay. Trong quá trình giã cần lật sắn liên tục cho đều, bỏ hết xơ và lõi, trộn thêm đường vào giã đến khi sắn thật nhuyễn, đường và sắn hoà quyện vào nhau” - Anh Nình Chung Thuỷ, một người có kinh nghiệm làm bánh sắn ở cơ sở bánh sắn - Hợp tác xã Phát triển xanh (Bình Liêu) chia sẻ.
Dulichgo
Theo anh Thuỷ, tỷ lệ đường tuỳ thuộc vào khẩu vị người ăn ngọt vừa hoặc ngọt đậm. Sắn được giã nhuyễn cho vào khuôn và ra thành phẩm. Bánh sắn ngon đúng điệu có màu trắng ngà đẹp mắt, có mùi thơm ngậy của sắn, khi ăn dẻo gần ngang bánh nếp. Bánh sắn chế biến tốt, cẩn thận cũng có thể giữ được một tuần trong ngăn mát tủ lạnh. Bánh  có thể ăn nóng, nướng hoặc hấp và được ăn kèm với dưa chua muối khô. Đặc biệt, bánh sắn rán lên dậy mùa thơm, có màu vàng ruộm đẹp mắt, rất kích thích thị giác và khẩu vị người ăn.
Dulichgo
Là món ăn dân dã, ngày nay bánh sắn được bán ra chợ vừa túi tiền người tiêu dùng, với giá 5.000 đồng/cái. Dù làm theo cách dân dã thủ công hay chế biến công phu với sự hỗ trợ của máy móc, bánh sắn vẫn đưa đến hương vị riêng, cảm nhận riêng cho du khách khi thăm và thưởng thức món ăn này.

Theo Hà Phong (Báo Quảng Ninh)
Du lịch, GO!

Trường Sơn bên nắng, bên mưa (Bài 3)

By On tháng 9 04, 2017
Bài 3: Làng Mô

(QBĐT) - Bây giờ... nếu nhắc đến Làng Mô, sẽ có rất nhiều người không biết. Những năm 1960, Làng Mô là nơi tập kết hàng hóa, vũ khí, bộ đội trung chuyển đến Làng Ho chi viện cho chiến trường Trị Thiên và miền Nam. Từ ngôi làng sơ khai của đồng bào dân tộc Vân Kiều lúc ban đầu, với quá trình di dân kinh tế mới ở các xã vùng nam huyện Quảng Ninh lên, Làng Mô phát triển thành xã Trường Sơn sau năm 1975.

Từ biệt những người thân một đêm ở Trạm kiểm lâm U Bò, tôi tiếp tục làm kẻ lữ hành cô độc trên chiếc xe Win 100, bám theo đường Hồ Chí Minh nhánh phía tây tiến vào phía nam. Qua cầu Rìn Rìn là chạm đất Làng Mô xưa, xã Trường Sơn bây giờ.

Năm 2000, tôi lên Làng Mô- Trường Sơn lần đầu tiên, theo lời mời của bà Hồ Thị Con, đại biểu HĐND huyện Quảng Ninh. Hồi đó, duy nhất tuyến đường đò dọc ngược dòng Đại Giang. Khởi đầu từ chợ Cổ Hiền, xã Hiền Ninh, đò khách qua Bến Tiêm, Nước Đắng, Hôi Rấy... Bắt đầu từ bản Hôi Rấy, khách chuyển sang thuyền độc mộc, gắn máy co-le, mỗi thuyền chỉ chở khoảng 3 đến 4 người. Vượt thêm chừng 9 con thác lớn nhỏ, trong đó có thác Tam Lu đẹp và “hiểm ác”.

< Một góc bản đồng bào dân tộc Vân Kiều Trường Sơn bên đường Hồ Chí Minh.
Dulichgo
Tam Lu sơn thủy hữu tình. Tam Lu thành thử thách của những tay lái co-le. Thú thật, cụ Nguyễn Tuân khi viết bút ký “Người lái đò sông Đà” so với độ “nặng”, hiểm nguy, chông chênh, ghềnh thác... Tam Lu ở Đại Giang gấp đến nhiều lần.
Bây giờ đến xã biên giới Trường Sơn, thời gian mất chưa đầy 3 giờ đồng hồ. Đường Hồ Chí Minh nhánh phía tây rộng mở đưa Làng Mô- Trường Sơn gần lại với đồng bằng chỉ chưa đầy “một quăng rạ”.

Đồng bào dân tộc Vân Kiều Làng Mô có 606 hộ, 2.579 khẩu, ngoài một số bản Dốc Mây, Ploang, Rìn Rìn, Trung Sơn... sâu giữa núi rừng Trường Sơn; Nước Đắng, Hôi, Rấy, Cổ Tràng định cư dọc hai bờ sông Long Đại, thì các bản còn lại bám lấy đường Hồ Chí Minh. Bắt đầu từ ngoài vào có thể kể đến bản Khe Cát, bản văn hóa đầu tiên của người Vân Kiều Trường Sơn, Cây Cà, qua trung tâm xã rồi đến Bến Đường, Đá Chát và Chân Troộng. Hết bản Chân Troộng, đường Hồ Chí Minh “vươn” qua đất xã Lâm Thủy (huyện Lệ Thủy) ở ngã ba Tăng Ký, nơi giao nhau với đường 10.


< Đồn biên phòng Làng Mô 597.

Đường Hồ Chí Minh thông thoáng trở thành động lực cho bà con tìm ra sinh kế, tăng cường mối giao lưu giữa các bản trong xã, giữa miền xuôi và miền ngược.

Lên Trường Sơn, nhớ lắm tình cảm bền chặt giữa tôi với cán bộ, chiến sỹ Đồn biên phòng Làng Mô anh hùng với những kỳ tích trong kháng chiến chống Mỹ cũng như ở thời bình, vận động đồng bào định canh định cư, ổn định cuộc sống lâu dài.
Đồn biên phòng ở giữa lòng dân, trở thành chỗ dựa vững chắc cho nhân dân vùng biên viễn. Tiếc rằng vì thời gian có hạn, tôi không thể “ba cùng” với những người lính quân hàm xanh Làng Mô tuần tra dọc chiều dài 38 km biên giới, thăm 15 cột mốc vừa được tôn tạo, tăng dày giáp giới huyện Bualapha (Lào) hay lên bản Dốc Mây xa thẳm như trước đây. Đành khất vào dịp khác.
Dulichgo
Chủ tịch xã Trường Sơn Nguyễn Văn Sỹ gặp tôi, câu hỏi chân tình thay lời chào: “Lâu rồi mới thấy nhà báo lên lại Trường Sơn”. Nắm tay ghi nhận lời anh đúng, mấy năm nay ít có cơ hội được thăm, được sống với đồng bào dân tộc thiểu số nơi miền tây Quảng Bình.


< Những phụ nữ Vân Kiều trầm mình trong suối bắt cá, bắt ốc mưu sinh.

“Giờ thì cho em biết về tình hình sản xuất của đồng bào anh nhé!”- Tôi gợi ý. Một chút bâng khuâng thoáng qua trên gương mặt vị chủ tịch xã. Anh chốt câu trả lời: “Đông-xuân năm ni... mất mùa nặng! Đầu vụ rét đậm, rét hại, vào vụ gặp hạn nặng. Nhà báo gắn bó với đất ni thì biết rồi đó, lúa nước chỉ được 26ha thôi, cây trồng chủ lực từ xưa đến nay vẫn là lạc khoảng 100ha; ngô 90ha, mấy năm nay nhờ có chủ trương giao đất, giao rừng cho nhân dân và cộng đồng quản lý, đồng bào đưa cây sắn vào trồng, chừng 200ha... Mùa vụ gặp thời tiết không thuận lợi, năng suất lạc mất khoảng 40%, ngô 50%, lúa nước 50%... ”.

Chủ tịch xã Trường Sơn cho biết thêm, vụ hè thu này cây đậu xanh chủ lực diện tích mở rộng ra đáng kể, trên 125ha. Hy vọng sẽ được mùa, cải thiện phần nào đời sống cho nhân dân. Anh băn khoăn về tiến độ giao đất, giao rừng cho dân. “Chỉ mới hơn một nửa số hộ đồng bào nhận đất rừng sản xuất mà thấy hiệu quả kinh tế thay đổi rõ rệt, niềm tin trong dân cũng được củng cố, tăng cường. Nếu hoàn thành xong tiến độ giao đất, giao rừng ở Trường Sơn, chúng tôi tin tưởng đời sống nhân dân sẽ thay đổi, khác xa bây giờ”.

Tôi ghé bản Đá Chát, trưởng bản Hồ Thị Thư đón khách ngay từ chân cầu thang. Đá Chát có 50 nóc nhà, 208 nhân khẩu. Ngày trước mỗi lần về với bà con Vân Kiều bản Đá Chát, Bến Đường chỉ có mỗi con đường cắt rừng hoặc chèo đò ngược sông Long Đại theo hướng đầu nguồn, quần xăn lên tận bẹn.
Bây giờ, đường thẳng ro, chạy xe máy từ trung tâm xã vào bản mất chưa đầy ba chục phút. “Như rứa là đổi thay lớn nhất của bản miềng!”- Trưởng bản Hồ Thị Thư cười hồn hậu.
Dulichgo
Bản Bến Đường, nơi ở của chị Hồ Thị Con, người phụ nữ Vân Kiều trước đây mời tôi lên thăm Làng Mô, để tôi trót mang nhiều duyên nợ với đất và người Trường Sơn. Bây giờ chị đã có tuổi, vẫn tham gia công tác xã hội trên cương vị Phó chủ tịch Mặt trận xã. Nhà chị kế bên đường Hồ Chí Minh, hai chị em ngồi ngoài bậu cửa ôn lại chuyện xưa, chuyện nay.

Người Vân Kiều Trường Sơn quý trọng chị, về nhân cách, về phẩm giá, về những việc chị làm cho đồng bào mình. Tôi xin chị Hồ Thị Con “giấu” câu chuyện cuộc đời chị (dù báo chí viết về chị rất nhiều) để vào một dịp nào đó “kể” sau. Chị đồng ý cái rụp: “Ừ, nhà báo mần chi đó thì mần. Nhưng viết theo đúng những gì chị kể nhé! Không thêm, không bớt”. Dĩ nhiên tôi gật đầu tán thành.

< Đường Hồ Chí Minh nhánh phía tây chuẩn bị chạm đất xã Trường Sơn.

Xe chạy vừa kịp đến bản Trạng Roộng, mưa rừng dội xuống trên đầu. Cũng cái kiểu bất chợt mưa, bất chợt nắng Trường Sơn. Một cậu bé Vân Kiều chỉ cho tôi ngôi trường nho nhỏ bên đường. Mưa xối xả... buồn, tôi lôi cậu bé ra phỏng vấn: “Tên chi?”. “Hồ Văn Thiết!”. “Học lớp mấy?”. “Lớp 4, sang năm lên lớp 5”. “Đi học vui không?”. “Vui... cháu thèm đi học!”. Trường tiểu học bản Trạng Rôộng, cửa đóng then cài, không một bóng người vãng lai. Tôi nhìn ngôi trường, thầm hiểu vì sao cậu bé Hồ Văn Thiết thèm đi học.
Dulichgo
Mùa hè đã đến, thầy cô giáo về xuôi, ba tháng sau thầy cô, học trò mới gặp lại nhau trong năm học mới. Mưa dứt... chào cậu bé Hồ Văn Thiết tốt bụng, vui chuyện, tôi tiếp tục hành trình của mình. Phía trước gần lắm Lâm Thủy, Kim Thủy (huyện Lệ Thủy) và đích đến là Làng Ho.
(Còn Tiếp)

Trường Sơn bên nắng, bên mưa - Bài 1: Xuân Trạch-ngày của hoài niệm
Trường Sơn bên nắng, bên mưa - Bài 2: Giữa lòng di sản
Trường Sơn bên nắng, bên mưa - Bài 3: Làng Mô
Trường Sơn bên nắng, bên mưa - Bài 4: Làng Ho
Trường Sơn bên nắng, bên mưa - Bài cuối: Lời của gió nơi ngã ba Dân Chủ

Theo Ngô Thanh Long (Báo Quảng Bình)
Du lịch, GO!

Rừng thiêng Tây Bắc

By On tháng 9 03, 2017
(TN&MT) - Nói đến Tây Bắc người ta nghĩ ngay đến những ngọn núi trùng điệp mù sương, những bản làng xinh đẹp nằm soi bóng bên những dòng suối và cả những bản sắc văn hóa các dân tộc đặc sắc thể hiện qua những điệu múa xòe, câu khắp thái… Và, ở đó còn có một phong tục đẹp mà người dân vùng tây bắc đã gìn giữ từ đời này qua đời khác đó là tục Cấm rừng hay những Khu rừng thiêng.

1- Chúng tôi ngược đường Tây Bắc đến Nghĩa Lộ - Mường Lò - Yên Bái là nơi được coi là cội nguồn văn hóa dân tộc Thái. Nơi có người dân tộc Thái vẫn “tôn thờ” và duy trì thực hiện tục Cấm rừng và những khu rừng thiêng. Người chúng tôi tìm đến không ai khác là nghệ nhân người dân tộc Thái Lò Văn Biến người được coi là kho tàng sống về văn hóa dân tộc Thái... như chạm vào mạch nguồn suy nghĩ, luôn chảy mãi trong con người luôn trăn trở suy nghĩ làm gì để bảo tồn văn hóa dân tộc Thái.

Ông Biến bắt đầu kể cho chúng tôi: Trải qua hàng nghìn năm chung sống hòa thuận với rừng, hiểu được quy luật của rừng, dân tộc Thái tôn trọng rừng và đặt ra những quy định về việc bảo vệ rừng được cộng đồng tôn trọng như những luật tục. Mỗi khu vực những khu rừng cấm thường gắn với những truyền thuyết, giai thoại, mang tính huyền bí… mỗi người, mỗi bản mường đều tôn thờ như một tín ngưỡng.
Dulichgo
Ngày xưa những khu rừng cấm này không ai dám xâm phạm, dù là chỉ hái một ngọn măng, chặt một cành cây, săn bắt một con chim thú… Ai đi qua cũng phải cúi lạy, cũng phải xuống ngựa, chị em phải cởi khăn Piêu xuống lặng lẽ bước qua, những con thú bị thương trong những cuộc săn bắn nếu chạy vào đây không ai được đuổi theo và sẽ được rừng che chở bảo vệ.

Có khu rừng hàng năm chỉ mở cho phép mọi người vào hái măng một vài lần trong năm sau những cơn mưa rồi lại đóng để rừng phát triển xanh tốt, còn những khu rừng bảo vệ nguồn nước tuyệt đối cấm khai thác, rừng dành cho việc khai thác vật liệu dựng nhà thì cấm không được phát, đốt làm nương.

Bản mường dân tộc Thái, đầu Mường có rừng hồn chiềng gọi là “cửa xen”, cuối mường có rừng hồn chiềng gọi là “ cửa pọng” như nơi trú ngụ của linh hồn bản mường, bên cạnh mường có rừng là nghĩa địa của mường gọi là “chiềng kẻo”, hình ảnh đó như một biểu tượng ăn sâu vào tiềm thức mỗi người. Vài năm một lần bản mường tổ chức cúng rừng – “xên đông”.

Lễ cúng diễn ra trang trọng, linh thiêng, thầy cúng đại diện cho cộng đồng cầu khẩn các đấng siêu nhiên ban cho mưa thuận gió hòa, mùa vụ tươi tốt, cuộc sống ấm no hạnh phúc…
Chính vì vậy, rừng được bảo vệ từ trong ý thức của mỗi người, nhân văn và cao đẹp.
Dulichgo
2- Gấp lại những trang sử huyền bí xa xưa tìm về với hiện tại, chúng tôi đến xã Nghĩa An Thị xã Nghĩa Lộ để thấy được "Rừng thiêng" có ở nơi đây. Với tổng diện tích rừng tự nhiên 1.115 ha, chiếm 1/3 diện tích thị xã Nghĩa Lộ và có đến 530 ha được phủ xanh bởi rừng keo, rừng thông và các loại cây lâm nghiệp khác.

Những năm qua, kinh tế rừng được xã Nghĩa an chú trọng nhằm xóa đói giảm nghèo và làm giàu cho nhân dân, đồng thời, cũng là cách bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp và ở đây đồng bào dân tộc thái vẫn còn lưu mãi tục cấm rừng. Theo chân ông Vì Ngọc Trình Chủ tịch UBND xã, chúng tôi lên thăm những cánh rừng xanh mướt. Ông Chủ tịch cho biết, toàn bộ diện tích rừng trong tầm mắt đều phủ xanh bởi những cánh rừng trồng.

Khi chúng tôi hỏi ông về tục cấm rừng và những khu rừng thiêng, ông Trình cho biết, đây là một phong tục đẹp mà người thái xưa để lại. Người Thái hiểu rất rõ vai trò của rừng đầu nguồn với cuộc sống và mùa màng. Có thể nói rằng, rừng góp phần nuôi sống con người và đến khi mỗi người qua đời, rừng lại đón về, ấp ủ như người Mẹ.

Người Thái có câu: “Tai pá phăng, nhăng pá liệng” – có nghĩa là: Sống rừng nuôi, chết rừng chôn. Rừng cung cấp cho người từ ngọn măng, ngọn rau, cây nấm, thuốc chữa bệnh… đến cây cột dựng nhà, chiếc quan tài khi qua đời…

Việc bảo vệ rừng, đặc biệt là những khu rừng đầu nguồn, rừng thiêng là nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi người và đã trở thành luật lệ của bản mường. Người Thái đời này sang đời khác vẫn nhắc nhau rằng: “Giữ rừng cho muôn đời phát triển/ Để cho muôn mỏ nước tuôn trào/ Ai nhớ được câu ấy thì mới thành người! Ông Vì Ngọc Trình Chủ tịch UBND xã cho biết, xã Nghĩa An không có rừng già rừng nguyên sinh nhưng không vì thế mà đồng bào dân tộc thái quên tục cấm rừng.

3- Chúng tôi đi giữa những cánh rừng bạt ngàn khi gặp được ông Hoàng Văn Song người gác rừng đang đi tuần. Dừng lại, ngồi  hút thuốc lào ông kể cho chúng tôi nghe về công việc của mình: Ông là đi tuần tra khu vực rừng phòng hộ của xã, khu rừng này rộng 68 ha chủ yếu là keo; những cây keo trồng được từ 3 - 5 năm phát triển mạnh cho tán rộng mát. Thời gian qua, ông Sóng quá quen với từng con đường, từng giao thông hào; nhớ từng gốc cây to. Để đi tuần tra hết một quả đồi anh chỉ mất khoảng 1 giờ 30 phút nhưng với chúng tôi phải mất 3 giờ đồng hồ.
Dulichgo
Bằng kinh nghiệm dầy dạn của người đi rừng ông Sóng nắm bắt được thời điểm kẻ xấu thường hay lợi dụng chặt trộm cây, từ đó, ông tích cực đi tuần vào thời điểm đó để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, báo về xã để giải quyết xử lý.

Trong những năm bảo vệ rừng, ông phát hiện hàng chục vụ chặt trộm cây lớn, kịp thời báo về xã để giáo dục, răn đe, xử phạt. Nhắc nhở bà con nhân dân chỉ nên tỉa cành về làm củi, thường xuyên phát quang cỏ rậm đề phòng cháy rừng.

Nói chuyện với người gác rừng, chúng tôi không thể lý giải được tục cấm rừng hay những khu rừng thiêng đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân tộc Thái như thế nào, chỉ biết rằng, thực tế những con người như ông Hoàng Văn Sóng vẫn hàng ngày đi gác rừng từ lúc trời còn tảng sáng.

Bước chân nhanh nhẹn vượt qua những con dốc, triền đồi ông Sóng thầm lặng làm công việc của một người bảo vệ rừng. Khi biết rằng đồng trợ cấp ít ỏi 100.000 đồng/tháng và 3 tạ thóc một năm nhưng suốt những năm qua hơn 500 ha rừng của  xã Nghĩa An luôn gắn chặt với từng bước chân và thấm đẫm những giọt mồ hôi của ông.

Ông Vì Ngọc Trình Chủ tịch UBND xã cho chúng tôi biết thêm, việc trồng rừng, hàng năm được xã huy động toàn bộ lực lượng nhân dân sau đó xã tiến hành giao rừng cho từng hộ chăm sóc, công tác bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng do xã đảm nhận, nhờ đó, năm nào xã nghĩa an cũng hoàn thành sớm kế hoạch trồng rừng và đảm bảo tỷ lệ sống cao. Hiện nay, xã Nghĩa An có 350 hộ trồng rừng chiếm trên 50% tổng số hộ của toàn xã; trong đó, nhiều hộ đã thoát nghèo và làm giầu từ rừng. Để bảo vệ rừng được như hiện nay, các thôn bản còn ra các hương ước riêng về phòng chống chữa cháy rừng và quản lý bảo vệ rừng.

Quy định mức phạt với các gia đình để trâu bò vào phá rừng mới trồng. Mỗi năm 2 lần các gia đình tổ chức phát quang cây cỏ dại, tỉa thưa cây và phát tán cho cây. Gia đình nào muốn đốt nương, phải xin phép và được sự đồng ý của UBND xã.
Dulichgo
Ông chỉ chúng tôi thấy những cánh rừng xanh ngút tầm mắt xen kẽ những cánh rừng mới chỉ 1, 2 năm tuổi, nhờ gối vụ nên khi rừng mới thu hoạch màu xanh của rừng không mất đi. Ông Trình còn khẳng định chắc chắn trong vòng 5 năm tới rừng Nghĩa An sẽ được phủ kín tới 800 ha, trên là rừng dưới là nơi chăn thả gia súc và xã sẽ xây thông hào "vạn lý" để giữ cho những cánh rừng xanh mãi.

Đi trong những cánh rừng Tây Bắc với lộc chồi biếc phủ xanh ngát, chúng tôi mới hiểu được rằng, rừng trong tâm thức của Người Thái như trái tim của cộng đồng, thể hiện những quy ước, luật tục và những giá trị văn hoá truyền thống được tôn thờ, được sùng kính với ông bà tổ tiên và những cánh rừng tây bắc luôn xanh tươi như mùa xuân của đất trời vậy. Câu nói người dân tộc Thái về rừng và cách bảo vệ rừng của dân tộc họ: “Có rừng, có cây, có hoa quả chín. Chim muông, ong bướm muôn loài sẽ đến. Nếu không muôn loài ong bướm và chim muôn sẽ bỏ đi. Đó là lẽ thường tình của tự nhiên" luôn làm chúng tôi suy nghĩ.

Theo Nguyễn Nhật Thanh (Báo Tài Nguyên Môi Trường)
Du lịch, GO!

Lòng hồ vùng cao, điểm đến tuyệt vời dịp nghỉ lễ

By On tháng 9 03, 2017
(BNA) - Toàn tỉnh Nghệ An có 50 hồ lớn do Nhà nước quản lý. Tại hệ thống thủy lợi Nam Nghệ An có 12 hồ chưa nước cỡ lớn, có thể là hồ thủy điện hoặc là hồ thủy lợi dùng cung cấp nước cho đồng bằng mùa khô... và chúng cũng tạo cảnh quan với khách du lịch.

Những hồ nước trong xanh với chiếc thuyền độc mộc tung bọt trắng xóa, cùng sản vật tươi rói của vùng thượng nguồn đã trở thành lý do để nhiều du khách tìm đến vùng cao xứ Nghệ trong dịp nghỉ lễ.

Trên lòng hồ thủy điện bản Vẽ, những địa điểm như bến Con Phen (Hữu Khuông), bến bản Vẽ (Yên Na), bến Xốp Tụ (Mỹ Lý) là những điểm dừng chân tuyệt vời với các du khách trong dịp nghỉ lễ.

Những ngôi nhà nổi ven hồ trên bến hạ lưu bản Vẽ không chỉ là nơi để cư dân làm ăn sinh sống mà còn tấp nập, đông vui như một khu chợ trên sông.
Dulichgo
Tại đây, du khách có thể thăm thú cảnh sông hồ trên những chiếc thuyền độc mộc.

Ngắm cảnh những đàn chim trời sải cánh trên mặt nước lúc chiều buông.

Những chiếc bè giữa lòng hồ là điểm dừng chân của nhiều du khách sau khi thăm thú cảnh vật.
Dulichgo
Tại đây, những con cá tươi ngon nhất do khách tùy ý lựa chọn sẽ được mang lên chế biến tại chỗ.

Trên những vùng hồ khác như Anh Sơn, Con Cuông cũng mang một vẻ đẹp quyến rũ với những dãy núi soi mình xuống mặt nước.

Một loài hoa thân gỗ mùa này cũng bắt đầu khoe sắc với vẻ đẹp hoang dã nơi núi rừng.

Chú chim bói cá đứng thu mình trong sương sớm ban mai.
Dulichgo
Tất cả tạo nên vẻ đẹp rất riêng biệt của mùa thu trên đại ngàn xứ Nghệ. Đây thực sự sẽ là điểm du lịch hứa hẹn nhiều hấp dẫn với du khách trong dịp nghỉ lễ.

Theo Đào Thọ (Nghệ An online)
Du lịch, GO!

Trường Sơn bên nắng, bên mưa (Bài 2)

By On tháng 9 03, 2017
Bài 2: Giữa lòng di sản

(QBĐT) - Đang giữa nắng bỏng mắt, từ ngã ba Xuân Trạch đến giáp trạm kiểm lâm Trộ Mợng, bất chợt không khí chùng xuống, dịu lại. Đường Hồ Chí Minh nhánh phía tây đâm thẳng vào lòng di sản, quanh co, dốc đứng, bên vực thẳm, bên lèn cao.

Bám theo mặt đường cán nhựa phẳng lỳ, tôi hòa mình vào dòng xe cộ tấp nập của khách thập phương đến tham quan Di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng. Bên trái cung đường là Khu du lịch sinh thái suối Nước Moọc. Dấn sâu thêm chút nữa, động Thiên Đường do Tập đoàn Trường Thịnh đầu tư, khai thác ở phía bên phải.

Khoảng 30 phút sau, tôi chạm đất ngã tư nơi giao nhau giữa đường 20 Quyết Thắng “roọc ngang” Trường Sơn lên hai xã Tân Trạch, Thượng Trạch rồi qua nước bạn Lào tại Cửa khẩu Cà Roòng- Noọng Ma. Trên đường 20 Quyết Thắng có rất nhiều địa danh gắn với những chiến công oanh liệt của lực lượng thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, bộ đội Trường Sơn như các tọa độ lửa A-T-P (cua chữ A, ngầm Ta Lê, đèo Phulanhich).
Dulichgo
Đặc biệt, Khu đền tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ đường 20 gắn với sự hy sinh bi tráng của 8 thanh niên xung phong ở Hang Tám TNXP tại km16+500 đã trở thành một địa chỉ du lịch tâm linh quen thuộc của du khách trong nước và quốc tế.

Tôi cứ đứng bần thần ngay cái ngã tư rộng thênh thang, kế bên cầu Trạ Ang với những chân trụ vút thẳng từ vực sâu lên nâng đỡ mặt cầu. Ngày xưa... ở ngã tư có ngầm Trạ Ang, cũng là một tọa độ lửa, đạn bom giặc Mỹ trút xuống suốt đêm ngày. Trên cầu Trạ Ang, một đoàn khách quốc tế dừng lại, tỏa ra hai phía lan can, nhìn sâu vào dòng suối thẳm.

Họ đến từ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
Dulichgo
Chàng trai phiên dịch cho đoàn khá am tường về lịch sử, về những tuyến đường hợp thành hệ thống đường Trường Sơn trên đất Quảng Bình. Bạn bảo với khách: “Cuối tháng 9-1968, đường 20 từ dốc Đồng Tiền đến Trạ Ang trở thành tuyến độc đạo, xe cơ giới Đoàn 559 dồn ứ lại vì không còn xăng tiếp tế. Binh trạm 14-Bộ đội Trường Sơn tìm mọi cách để vận chuyển xăng dầu qua ngầm Trạ Ang cho xe vào chiến trường. Và máu đánh đổi ngang bằng xăng.

Chỉ riêng hai ngày cuối tháng 9, Binh trạm 14 vận chuyển thành công 30 phuy xăng thì đã có 20 người ngã xuống. Cái giá quá đắt, những phuy xăng bị trúng đạn cháy loang, dòng suối Trạ Ang thành dòng máu lửa”.

Cũng từ cầu Trạ Ang, tôi nhìn xuôi theo đường 20 ra phía Phong Nha, ngay trong tầm mắt là công trình Bảo tàng đường Hồ Chí Minh ngoài trời trên đất Quảng Bình đang còn dang dở. Khởi công từ năm 2009, dự định hoàn thành cuối năm 2012. Bảo tàng đường Hồ Chí Minh ngoài trời trên đất Quảng Bình sẽ tái hiện lại đầy đủ toàn cảnh sống, chiến đấu của bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến... các cung đường ra trận: đường kín, đường hở, đường ống xăng dầu, bãi dấu xe, điểm đóng quân các binh trạm, kho hàng, lán trại, bếp Hoàng Cầm...

Rất tiếc, mốc thời gian hoàn thành dự án trôi qua cách đây 4 năm... Bảo tàng đường Hồ Chí Minh ngoài trời trên đất Quảng Bình chìm trong lau lách, mấy ai người Quảng Bình biết trên quê hương mình hiện diện một dự án xứng tầm như thế; xứng với mồ hôi, xương máu những người vĩnh viễn nằm lại trên đại ngàn Trường Sơn.


< Du khách quốc tế tham quan cầu Trạ Ang, một trọng điểm ác liệt trên tuyến đường Hồ Chí Minh nhánh phía tây trong những năm kháng chiến.

Từ cầu Trạ Ang, đường Hồ Chí Minh len lỏi trong vùng di sản tiếp tục đi sâu vào phía nam. Làm một cử chỉ thân mật chào những công dân thân thiện đến từ nước Mỹ, tôi tiếp tục hành trình lãng du của mình. Điểm dừng chân kế tiếp là đỉnh U Bò.  Càng gần đến U Bò, đường dốc lên cao, dốc khúc khuỷu, cảm giác như hẹp lại, không thể tìm đâu ra một đoạn đường thẳng khoảng chừng 10 mét. Theo trí tưởng tượng của tôi, đường Hồ Chí Minh qua U Bò hệt như một chú trăn khổng lồ cuộn mình giữa khu rừng nguyên sinh.
Dulichgo
Trời đang quang đãng, lên chừng giáp đỉnh U Bò, mây đâu kéo đến đen đặc. Những hạt mưa to như sạn cơm quất xuống đường ràn rạt. Mưa rừng Trường Sơn ào đến nhanh  bất ngờ. Chỉ kịp dừng xe lại bên đường, túm vội mấy tàu lá môn rừng che kín người, che dụng cụ tác nghiệp, mưa đã đan kín rừng. Sùng sục nhanh rồi tạnh cũng nhanh. Đó là đặc trưng của mưa rừng. Những ngày sau, khi càng tiến vào sâu phía nam, tôi thường xuyên phải đối mặt với nhiều cơn mưa bất chợt đến, bất chợt đi như vậy, “một bên nắng đốt, một bên mưa bay”.

< Bãi biển Nhật Lệ và Thị xã Đồng Hới nhìn từ đỉnh U Bò.

Đỉnh U Bò nằm ở độ cao hơn 1000 mét so với mực nước biển. Quần thể rừng nguyên sinh trên đỉnh U Bò với những giống cây đặc hữu hầu như còn nguyên trạng. Đứng trên đỉnh U Bò phóng tầm mắt bao quát xung quanh, cảm giác nhẹ nhàng, thư thái hẳn. Nếu vào một ngày nắng đẹp, trời quang, mây tạnh, từ U Bò sẽ thấy hình ảnh Bố Trạch, Đồng Hới và dãy cát Đại Trường Sa chạy dài phía biển rõ mồn một. Rất tiếc, cơn mưa rừng bất chợt làm cho hơi lèn núi đá bốc lên mù mịt. Qua ống kính máy ảnh, thành phố Đồng Hới vẫn nguyên vẹn hình hài, nhưng không được rõ nét cho lắm.

Tôi quyết định tá túc một đêm tại Trạm kiểm lâm U Bò. Thực ra, tính từ cầu Trạ Ang trở vào cầu Rìn Rìn thuộc địa phận xã Trường Sơn (huyện Quảng Ninh) trên đường Hồ Chí Minh nhánh phía tây không có dân định cư. Thỉnh thoảng xuất hiện ít đoàn khách du lịch, vài đoàn khách tây “phượt” trên những chiếc xe cào cào phân khối lớn... Thường trực hàng ngày chỉ có lực lượng kiểm lâm. Chọn Trạm kiểm lâm U Bò ở lại, tôi muốn trải nghiệm cảm giác được ngủ ở độ cao 1000 mét so với mực nước biển như thế nào. Ngày mai khi đổ hết dốc U Bò, tôi sẽ đến địa phận huyện Quảng Ninh.

< Trước Trạm kiểm lâm U Bò.

Từ Minh Phương, Trạm trưởng Trạm kiểm lâm U Bò là người thành phố Đồng Hới. Gặp khách, những kiểm lâm viên dường như vui hơn. Phương bảo: “Ở nơi chim kêu vượn hót suốt ngày, có khách đến chơi nhà là anh em phấn khởi lắm. Nhưng dân phượt đi qua, ít người ghé lại. Khách quốc tế vào trạm, do bất đồng ngôn ngữ nên dù muốn giữ họ lâu hơn cũng bất tiện”. Trạm kiểm lâm U Bò gồm 10 kiểm lâm viên kiểm soát diện tích rừng trong diện bảo vệ nghiêm ngặt trên 4.316 ha. Giữa “thâm sơn cùng cốc”, cứ 3 ngày lại ngược ra chợ Sơn Trạch mua thực phẩm vào. Một tháng mỗi kiểm lâm viên được nghỉ 8 ngày, thay nhau về thăm nhà, thăm vợ con.
Dulichgo
Từ Minh Phương hẹn tôi: “Lúc mô về Đồng Hới, anh em liên lạc gặp nhau, chứ ở đây cái gì cũng đạm bạc. Nước dùng từ khe chảy trên núi xuống, điện thắp sáng bằng ắc- quy, người bạn thân nhất vẫn là những chiếc radio để cập nhật thông tin thế giới bên ngoài... Nhất định về Đồng Hới em sẽ điện thoại!”.

Bữa cơm anh em Trạm kiểm lâm U Bò đãi tôi đơn sơ mà ấm tình người. Mấy chén rượu chắt chiu để dành đem ra mời khách để chống lại cái lạnh núi cao khi đêm xuống, chút thịt lợn ướp mặn kho cong queo lại, cá khô và rau rừng...
Đêm U Bò xuống thật nhanh... phía đồng bằng ánh điện hắt lên thinh không một quầng sáng rộng mênh mông. Đâu đó giữa đại ngàn Trường Sơn, tiếng con nai tác tình gọi bạn vọng lại.

(Còn Tiếp)

Trường Sơn bên nắng, bên mưa - Bài 1: Xuân Trạch-ngày của hoài niệm
Trường Sơn bên nắng, bên mưa - Bài 2: Giữa lòng di sản
Trường Sơn bên nắng, bên mưa - Bài 3: Làng Mô
Trường Sơn bên nắng, bên mưa - Bài 4: Làng Ho
Trường Sơn bên nắng, bên mưa - Bài cuối: Lời của gió nơi ngã ba Dân Chủ

Theo Ngô Thanh Long (Báo Quảng Bình)
Du lịch, GO!

Popular