Enter your keyword

Put your ad code here

Trường Sơn bên nắng, bên mưa (Bài 2)

By On tháng 9 03, 2017
Bài 2: Giữa lòng di sản

(QBĐT) - Đang giữa nắng bỏng mắt, từ ngã ba Xuân Trạch đến giáp trạm kiểm lâm Trộ Mợng, bất chợt không khí chùng xuống, dịu lại. Đường Hồ Chí Minh nhánh phía tây đâm thẳng vào lòng di sản, quanh co, dốc đứng, bên vực thẳm, bên lèn cao.

Bám theo mặt đường cán nhựa phẳng lỳ, tôi hòa mình vào dòng xe cộ tấp nập của khách thập phương đến tham quan Di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng. Bên trái cung đường là Khu du lịch sinh thái suối Nước Moọc. Dấn sâu thêm chút nữa, động Thiên Đường do Tập đoàn Trường Thịnh đầu tư, khai thác ở phía bên phải.

Khoảng 30 phút sau, tôi chạm đất ngã tư nơi giao nhau giữa đường 20 Quyết Thắng “roọc ngang” Trường Sơn lên hai xã Tân Trạch, Thượng Trạch rồi qua nước bạn Lào tại Cửa khẩu Cà Roòng- Noọng Ma. Trên đường 20 Quyết Thắng có rất nhiều địa danh gắn với những chiến công oanh liệt của lực lượng thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, bộ đội Trường Sơn như các tọa độ lửa A-T-P (cua chữ A, ngầm Ta Lê, đèo Phulanhich).
Dulichgo
Đặc biệt, Khu đền tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ đường 20 gắn với sự hy sinh bi tráng của 8 thanh niên xung phong ở Hang Tám TNXP tại km16+500 đã trở thành một địa chỉ du lịch tâm linh quen thuộc của du khách trong nước và quốc tế.

Tôi cứ đứng bần thần ngay cái ngã tư rộng thênh thang, kế bên cầu Trạ Ang với những chân trụ vút thẳng từ vực sâu lên nâng đỡ mặt cầu. Ngày xưa... ở ngã tư có ngầm Trạ Ang, cũng là một tọa độ lửa, đạn bom giặc Mỹ trút xuống suốt đêm ngày. Trên cầu Trạ Ang, một đoàn khách quốc tế dừng lại, tỏa ra hai phía lan can, nhìn sâu vào dòng suối thẳm.

Họ đến từ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
Dulichgo
Chàng trai phiên dịch cho đoàn khá am tường về lịch sử, về những tuyến đường hợp thành hệ thống đường Trường Sơn trên đất Quảng Bình. Bạn bảo với khách: “Cuối tháng 9-1968, đường 20 từ dốc Đồng Tiền đến Trạ Ang trở thành tuyến độc đạo, xe cơ giới Đoàn 559 dồn ứ lại vì không còn xăng tiếp tế. Binh trạm 14-Bộ đội Trường Sơn tìm mọi cách để vận chuyển xăng dầu qua ngầm Trạ Ang cho xe vào chiến trường. Và máu đánh đổi ngang bằng xăng.

Chỉ riêng hai ngày cuối tháng 9, Binh trạm 14 vận chuyển thành công 30 phuy xăng thì đã có 20 người ngã xuống. Cái giá quá đắt, những phuy xăng bị trúng đạn cháy loang, dòng suối Trạ Ang thành dòng máu lửa”.

Cũng từ cầu Trạ Ang, tôi nhìn xuôi theo đường 20 ra phía Phong Nha, ngay trong tầm mắt là công trình Bảo tàng đường Hồ Chí Minh ngoài trời trên đất Quảng Bình đang còn dang dở. Khởi công từ năm 2009, dự định hoàn thành cuối năm 2012. Bảo tàng đường Hồ Chí Minh ngoài trời trên đất Quảng Bình sẽ tái hiện lại đầy đủ toàn cảnh sống, chiến đấu của bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến... các cung đường ra trận: đường kín, đường hở, đường ống xăng dầu, bãi dấu xe, điểm đóng quân các binh trạm, kho hàng, lán trại, bếp Hoàng Cầm...

Rất tiếc, mốc thời gian hoàn thành dự án trôi qua cách đây 4 năm... Bảo tàng đường Hồ Chí Minh ngoài trời trên đất Quảng Bình chìm trong lau lách, mấy ai người Quảng Bình biết trên quê hương mình hiện diện một dự án xứng tầm như thế; xứng với mồ hôi, xương máu những người vĩnh viễn nằm lại trên đại ngàn Trường Sơn.


< Du khách quốc tế tham quan cầu Trạ Ang, một trọng điểm ác liệt trên tuyến đường Hồ Chí Minh nhánh phía tây trong những năm kháng chiến.

Từ cầu Trạ Ang, đường Hồ Chí Minh len lỏi trong vùng di sản tiếp tục đi sâu vào phía nam. Làm một cử chỉ thân mật chào những công dân thân thiện đến từ nước Mỹ, tôi tiếp tục hành trình lãng du của mình. Điểm dừng chân kế tiếp là đỉnh U Bò.  Càng gần đến U Bò, đường dốc lên cao, dốc khúc khuỷu, cảm giác như hẹp lại, không thể tìm đâu ra một đoạn đường thẳng khoảng chừng 10 mét. Theo trí tưởng tượng của tôi, đường Hồ Chí Minh qua U Bò hệt như một chú trăn khổng lồ cuộn mình giữa khu rừng nguyên sinh.
Dulichgo
Trời đang quang đãng, lên chừng giáp đỉnh U Bò, mây đâu kéo đến đen đặc. Những hạt mưa to như sạn cơm quất xuống đường ràn rạt. Mưa rừng Trường Sơn ào đến nhanh  bất ngờ. Chỉ kịp dừng xe lại bên đường, túm vội mấy tàu lá môn rừng che kín người, che dụng cụ tác nghiệp, mưa đã đan kín rừng. Sùng sục nhanh rồi tạnh cũng nhanh. Đó là đặc trưng của mưa rừng. Những ngày sau, khi càng tiến vào sâu phía nam, tôi thường xuyên phải đối mặt với nhiều cơn mưa bất chợt đến, bất chợt đi như vậy, “một bên nắng đốt, một bên mưa bay”.

< Bãi biển Nhật Lệ và Thị xã Đồng Hới nhìn từ đỉnh U Bò.

Đỉnh U Bò nằm ở độ cao hơn 1000 mét so với mực nước biển. Quần thể rừng nguyên sinh trên đỉnh U Bò với những giống cây đặc hữu hầu như còn nguyên trạng. Đứng trên đỉnh U Bò phóng tầm mắt bao quát xung quanh, cảm giác nhẹ nhàng, thư thái hẳn. Nếu vào một ngày nắng đẹp, trời quang, mây tạnh, từ U Bò sẽ thấy hình ảnh Bố Trạch, Đồng Hới và dãy cát Đại Trường Sa chạy dài phía biển rõ mồn một. Rất tiếc, cơn mưa rừng bất chợt làm cho hơi lèn núi đá bốc lên mù mịt. Qua ống kính máy ảnh, thành phố Đồng Hới vẫn nguyên vẹn hình hài, nhưng không được rõ nét cho lắm.

Tôi quyết định tá túc một đêm tại Trạm kiểm lâm U Bò. Thực ra, tính từ cầu Trạ Ang trở vào cầu Rìn Rìn thuộc địa phận xã Trường Sơn (huyện Quảng Ninh) trên đường Hồ Chí Minh nhánh phía tây không có dân định cư. Thỉnh thoảng xuất hiện ít đoàn khách du lịch, vài đoàn khách tây “phượt” trên những chiếc xe cào cào phân khối lớn... Thường trực hàng ngày chỉ có lực lượng kiểm lâm. Chọn Trạm kiểm lâm U Bò ở lại, tôi muốn trải nghiệm cảm giác được ngủ ở độ cao 1000 mét so với mực nước biển như thế nào. Ngày mai khi đổ hết dốc U Bò, tôi sẽ đến địa phận huyện Quảng Ninh.

< Trước Trạm kiểm lâm U Bò.

Từ Minh Phương, Trạm trưởng Trạm kiểm lâm U Bò là người thành phố Đồng Hới. Gặp khách, những kiểm lâm viên dường như vui hơn. Phương bảo: “Ở nơi chim kêu vượn hót suốt ngày, có khách đến chơi nhà là anh em phấn khởi lắm. Nhưng dân phượt đi qua, ít người ghé lại. Khách quốc tế vào trạm, do bất đồng ngôn ngữ nên dù muốn giữ họ lâu hơn cũng bất tiện”. Trạm kiểm lâm U Bò gồm 10 kiểm lâm viên kiểm soát diện tích rừng trong diện bảo vệ nghiêm ngặt trên 4.316 ha. Giữa “thâm sơn cùng cốc”, cứ 3 ngày lại ngược ra chợ Sơn Trạch mua thực phẩm vào. Một tháng mỗi kiểm lâm viên được nghỉ 8 ngày, thay nhau về thăm nhà, thăm vợ con.
Dulichgo
Từ Minh Phương hẹn tôi: “Lúc mô về Đồng Hới, anh em liên lạc gặp nhau, chứ ở đây cái gì cũng đạm bạc. Nước dùng từ khe chảy trên núi xuống, điện thắp sáng bằng ắc- quy, người bạn thân nhất vẫn là những chiếc radio để cập nhật thông tin thế giới bên ngoài... Nhất định về Đồng Hới em sẽ điện thoại!”.

Bữa cơm anh em Trạm kiểm lâm U Bò đãi tôi đơn sơ mà ấm tình người. Mấy chén rượu chắt chiu để dành đem ra mời khách để chống lại cái lạnh núi cao khi đêm xuống, chút thịt lợn ướp mặn kho cong queo lại, cá khô và rau rừng...
Đêm U Bò xuống thật nhanh... phía đồng bằng ánh điện hắt lên thinh không một quầng sáng rộng mênh mông. Đâu đó giữa đại ngàn Trường Sơn, tiếng con nai tác tình gọi bạn vọng lại.

(Còn Tiếp)

Trường Sơn bên nắng, bên mưa - Bài 1: Xuân Trạch-ngày của hoài niệm
Trường Sơn bên nắng, bên mưa - Bài 2: Giữa lòng di sản
Trường Sơn bên nắng, bên mưa - Bài 3: Làng Mô
Trường Sơn bên nắng, bên mưa - Bài 4: Làng Ho
Trường Sơn bên nắng, bên mưa - Bài cuối: Lời của gió nơi ngã ba Dân Chủ

Theo Ngô Thanh Long (Báo Quảng Bình)
Du lịch, GO!

Đi Tây Bắc thăm rừng Thu Cúc

By On tháng 9 02, 2017
(TTCT) - Mang một cái tên đẹp, dịu dàng như người con gái nơi miền sơn cước - Thu Cúc cứ lặng lẽ, khiêm nhường cuốn hút chúng tôi. Cảnh sắc thiên nhiên hoang sơ, kỳ diệu cùng những nét văn hóa bản sắc đậm đà của cư dân bản địa đã biến Thu Cúc thành một nàng công chúa ngủ trong rừng với tiềm năng du lịch rộng mở.

Khiêm nhường mà quyến rũ

Cách Hà Nội 130km, Thu Cúc là một xã thuộc huyện vùng cao Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, nằm ở ngã ba giữa quốc lộ 32 lên Yên Bái và 32B sang Sơn La. Chính vì thế, rất nhiều đoàn du lịch và những phượt thủ với hành trình khám phá Tây Bắc đã qua đây.
Họ dừng chân bên đường nghỉ ngơi mà không biết rằng mình đã bỏ qua một thắng cảnh quyến rũ. Chúng tôi cũng vậy, từng vài lần bỏ qua, quyết định chẳng đi đâu nữa thử một lần khám phá Thu Cúc.

Từ ngã ba - điểm dừng chân quen thuộc của dân phượt, chúng tôi bắt đầu hành trình khám phá bản Soi, bản Ú. Hai bên đường thấp thoáng những nếp nhà lợp lá cọ đơn sơ của đồng bào Mường. Càng đi, khung cảnh hiện ngày một hoang sơ, thanh bình với những cánh đồng lúa xanh tươi bên dòng sông Bứa cuồn cuộn chảy.

Những hàng cây cổ thụ lâu năm tỏa bóng mát trên thảm cỏ xanh, đây cũng là nơi nghỉ ngơi tránh nắng của bà con nông dân. Mấy chú mục đồng vui đùa bên đường khiến quang cảnh càng nên thơ.
Dulichgo
Bản Ú, một bản hẻo lánh nhất vùng Thu Cúc, lập tức cho chúng tôi một ngạc nhiên thú vị: một con đập bằng gỗ chặn ngang dòng sông Bứa.
Dulichgo
Người Mường ở bản Ú sống dựa chủ yếu vào nghề trồng lúa nước nên nguồn thủy lợi để canh tác đặc biệt được bà con coi trọng. Ngay từ những năm 1960, cộng đồng dân cư bản Ú đã cùng nhau chặn dòng sông Bứa làm hồ chứa nước phục vụ canh tác.

Cũng từ đó hình thành nên đập Ú - con đập gỗ độc đáo có một không hai. Đập được người dân làm từ gỗ keo, phên lứa, lá cọ và đất. Đầu tiên một lớp gỗ được xếp ngang dòng sông rồi một lớp gỗ khác xếp dọc lên trên, cứ như vậy cho đến khi đập cao chừng 5m mới thôi.

Tiếp theo người dân sẽ đan một phên lứa dài để che phủ mặt phía trong của đập, sau đó dùng lớp lá cọ trải lên lớp phên lứa và cuối cùng là một lớp đất phủ lên lớp lá cọ. Có lẽ đây là cách làm đập thủ công và độc nhất vô nhị của người Mường không chỉ riêng vùng Thu Cúc mà cả vùng Tây Bắc nước ta.

< Đập Ú, con đập làm bằng gỗ độc đáo của người Mường.

Tuy làm đập thủ công, cầu kỳ như vậy nhưng tuổi thọ của đập cũng chỉ được một năm. Nếu ai muốn được tận mắt thấy quá trình làm đập gỗ nơi đây thì hãy đến bản Ú, Thu Cúc vào dịp đầu tháng 12 dương lịch hằng năm.

Ngược lên phía trên đập gỗ lạ mắt là một hồ nước trong xanh, nơi ghi dấu thành quả chặn sông lấy nước của bà con xứ Mường. Dòng sông Bứa đoạn chạy gần đập Ú quanh co uốn khúc với những tảng đá lớn nhỏ như một ma trận. Đôi bờ sông là cảnh sắc hoang sơ với những vạt rừng già nguyên sinh và thảm thực vật xanh tươi.

Nhiều người Mường bản địa vẫn giữ cách qua sông bằng bè mảng được ghép từ những cây giang. Chúng tôi bắt gặp những chàng trai, cô gái Mường đi chặt giang, nứa trên rừng rồi bó lại cho trôi sông. Họ cưỡi trên bó giang, nứa rẽ nước, len lỏi qua những tảng đá với chiếc sào trên tay để cầm lái trông thật phiêu lưu, mạo hiểm.


< Tìm hiểu thêm về đời sống văn hóa Thu Cúc là một trải nghiệm thú vị.
Dulichgo
Vào những ngày hè oi bức, người Mường ở Thu Cúc và các khu vực lân cận thường tìm đến đập Ú và các điểm dọc sông Bứa để tận hưởng không khí mát mẻ trong lành.
Dulichgo
Truyền thuyết nàng Cúc

Chúng tôi may mắn được ở lại nhà dân thêm một đêm. Cũng hiếm khi bản Mường có nhóm du khách phương xa ngủ trọ qua đêm, nên gặp mọi người ai cũng rất hồ hởi chào mời. Chúng tôi được thưởng thức vài món ăn bản địa khó quên như rau sắn muối chua, ốc suối hấp và cá bống tẩm gia vị nướng ở nhà một người dân Mường thân thiện.

Trong bữa ăn ấm cúng, chủ nhà kể: “Xứ Mường chúng tôi có một truyền thuyết gắn với người con gái tên Cúc. Nàng Cúc từ thuở hồng hoang gắn bó với người Mường bằng câu chuyện cảm động đi tìm giống lúa mới”.

Xưa kia, người Mường Bi, Mường Vang ở Hòa Bình di cư qua sông Bứa, lên thượng nguồn tìm thấy vùng Thu Cúc ngày nay. Thấy đây là vùng đất xanh tốt, phì nhiêu, cảnh vật thanh bình nên đã dừng chân dựng nhà, lập bản, định cư làm ăn sinh sống.

< Dòng sông Bứa trong xanh.

Tuy đã lập được bản nhưng cuộc sống của bà con Mường rất khó khăn do hạn hán kéo dài, không có cây trồng vật nuôi nào chịu nổi. Khi ấy ở bản có một người con gái giỏi giang, xinh đẹp lại thông minh, thạo nghề nông vẫn được mọi người gọi là nàng Cúc. Thương bà con xứ mình quanh năm nghèo đói, nàng Cúc đã tình nguyện lên đường vượt suối băng rừng tìm hồn vía của giống lúa mới về cho bản.
Dulichgo
Vượt qua bao khó khăn, nguy hiểm, cuối cùng nàng Cúc đã tìm được giống lúa mới về cho dân bản. Nhưng khi về đến gần bìa rừng ở bản Mường quê mình, nàng đã bị thú rừng hãm hại, kéo mất xác đi, chỉ còn bó lúa giống quý trên nền đất. Từ bó lúa giống của nàng Cúc, ruộng đồng xứ Mường lại xanh tươi, sai bông trĩu hạt.
Dulichgo
Để tưởng nhớ công ơn người đưa giống lúa mới về cho bản làng, dân Mường đã cùng nhau dựng lên miếu thờ nàng Cúc tại nơi tìm thấy bó lúa quý. Hằng năm người dân tổ chức lễ rước vía lúa từ miếu thiêng này về bản. Trong các lễ rước vía lúa, dân và thầy mo đến miếu nàng Cúc làm các nghi lễ để xin vía lúa về, rồi sau đó mọi người mới cùng nhau xuống đồng gieo cấy. Và mảnh đất này từ đó cũng mang tên Thu Cúc - người con gái xinh đẹp, dũng cảm xứ Mường.

< Miếu nàng Cúc - nơi thờ người con gái Mường trong truyền thuyết.

Thu Cúc là điểm trung chuyển của những ngả đường du lịch Tây Bắc nên du khách muốn qua đêm ở Thu Cúc cũng dễ dàng tìm được chỗ trọ. Có thể thuê phòng bình dân với giá 150.000 - 200.000 đồng/đêm ở các nhà nghỉ trong khu trung tâm xã. Hoặc ngủ qua đêm ở bản Ú, bản Soi, bản Mơ, bản Tang... trải nghiệm cuộc sống đậm chất bản địa.

Ngoài những món ăn quen thuộc như: ốc suối hấp, gỏi cá, cá tẩm gia vị cho vào ống giang nướng, rau sắn muối chua... du khách có thể nhờ người Mường ở các bản làm món rêu đá trộn gia vị bọc lá chuối, hoặc lá rong rồi vần than nóng. Thưởng thức món này rất lạ miệng, nhớ mãi không quên.

Theo Nguyễn Duy, Hải Dương (Dulich.Tuoitre)
Du lịch, GO!

Đồng Tháp mộc mạc và bình yên

By On tháng 9 02, 2017
(QHO) - Không có núi non hùng vĩ, cũng chẳng có những thắng cảnh rợn ngợp, Đồng Tháp khiến những ai đã từng một lần đặt chân đến đều phải nhớ thương về vẻ đẹp bình yên, mộc mạc đậm chất Nam bộ của những cánh đồng lúa phì nhiêu, những chiếc xuồng ba lá cùng tiếng chim líu lo vang trên sông rạch…

Đồng Tháp được biết đến là một tỉnh của miền Tây Nam bộ, với nhiều cảnh quan cùng những đặc sản mà không phải nơi nào cũng có. Về với Đồng Tháp, chúng ta sẽ được tận mắt thấy những cánh đồng lúa chìm trong bể nước mênh mông, những hồ sen thơm ngát đủ sắc màu, được nghe tiếng chim hót ríu ran, được đắm mình trong không gian hương tràm cùng với những món ăn đặc sản vùng sông nước. Hãy cùng Tạp chí Quê Hương khám phá những điểm đến nổi bật của Đồng Tháp, bạn nhé!

Tháp Mười ngát hương sen

Đồng sen Tháp Mười thuộc xã Mỹ Hòa, huyện Tháp Mười (Đồng Tháp) cách TP.Tân An (Long An) hơn 70km. Chỉ hơn 1,5 giờ đi xe máy theo Quốc lộ 62, du khách có thể tận hưởng chuyến đi cuối tuần thú vị bên gia đình, bạn bè.
Dulichgo
Với diện tích gần 20ha, không có xe cộ đông đúc, khói bụi, không có sự chen lấn, ồn ào thường thấy tại các địa điểm du lịch, đồng sen Tháp Mười yên bình, gần gũi đến lạ kỳ! Những cánh đồng sen xanh mát xen lẫn những đóa sen hồng lay nhẹ theo cơn gió làm say lòng du khách đến miền thôn dã. Khách đến thăm có thể đi xuồng di chuyển sâu vào bên trong, vừa ngắm cảnh đồng quê, vừa cảm nhận sự gần gũi, yên bình từ thiên nhiên. Hít căng lồng ngực không khí trong lành, mát mẻ của buổi sớm, khẽ chạm vào từng chiếc lá, từng bông hoa, đưa tay khoát nhẹ dòng nước mát lành.

Đồng sen đẹp nhất là vào mùa Hè, khi sen nở rộ, bông này chen lấy bông kia vươn lên đón nắng. Để du khách hóa thân thành những cô thôn nữ, những chàng trai miệt vườn khi về với đồng sen, khu du lịch còn có dịch vụ cho thuê trang phục áo bà ba, áo dài... Đây cũng là địa điểm lý tưởng cho những cặp đôi lựa chọn chụp ảnh cưới. Ngoài ra, mọi người cũng có thể trải nghiệm một ngày làm nông dân “thứ thiệt” khi tự mình chống xuồng hái sen, câu cá.

Để tạo không gian dừng chân, nghỉ ngơi cho du khách, người ta xây những chòi lá và tại những chòi lá này, mọi người có thể thưởng thức các món đặc sản địa phương, trong đó tất nhiên không thể thiếu sự góp mặt của sen. Nào cá lóc nướng cuốn lá sen non, nào gỏi gà ngó sen, xôi sen, chè sen… Đặc biệt, đến đồng sen vào mùa lũ, du khách còn được ăn cá linh, bông điên điển, chuột đồng nướng, chuột rô ti… Bấy nhiêu đó thôi cũng đủ làm ngày vui thêm trọn vẹn.

Về Cao Lãnh viếng mộ cụ Nguyễn Sinh Sắc

Thành phố Cao Lãnh (tỉnh Đồng Tháp) có một địa chỉ nổi tiếng mà bất kỳ ai đến cũng mong muốn được ghé thăm - đó là Khu di tích mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Dulichgo
Rộng gần 10ha, dù nằm ngay trung tâm TP. Cao Lãnh (123/1, Phạm Hữu Lầu, Phường 4), song Khu mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc khá yên tĩnh. Với không gian thoáng, nhiều công trình tỏ lòng tôn kính với cụ Phó bảng được bố trí độc lập nhưng có sự liên kết, hài hòa. Tượng đài cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc ngập tràn trong sắc hoa và xanh ngắt bóng cây. Điểm nhấn là mộ cụ được ôm ấp bằng mái vòm cánh sen trắng cách điệu với 9 đầu rồng hướng về phía đông - hình tượng dòng Cửu Long chảy về Biển Đông. Trước khu mộ là hồ sen hình ngôi sao, giữa hồ là đài sen trắng cách điệu sừng sững cao 6,5m tượng trưng cho cuộc đời thanh bạch của cụ Phó bảng.

Khu lăng mộ cụ Phó bảng được tiến hành xây dựng ngay sau khi đất nước thống nhất. Công trình hoàn thành năm 1977 và được xếp hạng Di tích cấp Quốc gia vào năm 1992. Nguyên bản nhà sàn Chủ tịch Hồ Chí Minh bình yên nằm trong Khu mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Đến đây, du khách có thể cảm nhận và hình dung được cuộc đời bình dị mà vĩ đại của Người. Ngôi nhà giúp cho những người dân ở miền Nam chưa có điều kiện ra thăm miền Bắc có thể thỏa lòng và như tìm được chút hơi ấm của nơi mà vị cha già dân tộc đã sống và làm việc...

Về Tam Nông nghe tiếng chim hót

Đồng Tháp Mười đẹp ở cả những dòng kênh rạch chằng chịt, len lỏi khắp nơi. Khắp các làng quê thanh bình, trù phú, những nếp nhà giản dị soi bóng xuống dòng kênh xanh, những cây cầu khỉ lắt lẻo bắc ngang những rạch nước trong veo.
Về với Tam Nông, du khách đừng quên đến thăm Vườn quốc gia Tràm Chim - nơi được mệnh danh là Đồng Tháp thu nhỏ - với hệ sinh thái đặc trưng của vùng đất ngập nước, nơi cư trú của nhiều loài chim quý hiếm của thế giới, đặc biệt là sếu đầu đỏ.
Dulichgo
Vườn quốc gia Tràm Chim là khu Ramsar có tầm quan trọng quốc tế, xếp thứ 2.000 trên thế giới và thứ 4 ở Việt Nam. Vào mùa nước nổi, nơi đây lại càng nhộn nhịp. Đến với Tràm Chim thời điểm này, chúng ta có thể cảm nhận rất nhiều cảnh quan thiên nhiên xinh đẹp, hoang vu cùng hàng trăm loại chim nước. Để quan sát tìm hiểu về các loại chim, bạn sẽ được người dân địa phương chỉ dẫn vào những chòi lá nhỏ để bí mật quan sát những loài chim tại đây và có thể chụp cho mình những tấm ảnh đẹp bổ sung vào bộ sưu tập ảnh du lịch của mình.

Ngoài những địa danh trên, du khách đến đây còn có thể đến thăm Khu di tích lịch sử Xẻo Quýt, Vườn quýt Lai Vung, Làng hoa kiểng Sa Đéc, Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng, Khu di tích Gò Tháp, Chợ chiếu Định Yên, Nhà cổ Huỳnh Thủy Lê,…

Du ngoạn Đồng Tháp trên chiếc xuồng ba lá lách qua những gốc tràm xù xì cắm rễ sâu xuống mặt kênh đỏ màu phù sa, du khách được đắm mình vào không gian hương tràm khám phá vẻ đẹp thiên nhiên. Mái chèo của bà má cứ êm êm khỏa nước, đưa chiếc xuồng ghé qua các di tích dưới bóng tràm thâm u, rồi lại quay trở ra đắm chìm trong cảnh sắc đồng quê êm đềm quen thuộc, với sen hồng nở muộn nép bên những đồng lúa, lau sậy nở trắng tinh khôi.
Dulichgo
Ngồi lơ đãng trên xuồng dưới bóng tràm xanh, ngửa cổ ngắm những cánh chim chao liệng trên nền trời xanh thẳm cao vời vợi, nghe văng vẳng những câu hò mượt mà, những bài đờn ca tài tử mùi mẫn từ xa xa vọng lại, thấy lòng bình yên đến lạ. Và mơ hồ nghĩ về một ngày sẽ quay lại Đồng Tháp Mười mùa nước nổi, để được ngắm sen hồng, lúa chín, để được rộn ràng thả lưới giăng câu, hái bông súng, bông điên điển, để được ăn bữa cơm quê dân dã miền sông nước, và sống cuộc sống bình yên trong niềm vui được mùa cùng những người nông dân chất phác, hồn hậu của mảnh đất này...

Theo Hương Thảo (Quê Hương)
Du lịch, GO!

Trường Sơn bên nắng, bên mưa (Bài 1)

By On tháng 9 02, 2017
Bài 1: Xuân Trạch-ngày của hoài niệm

(QBĐT) - Nhắc đến Quảng Bình, nhiều người liên tưởng về một vùng đất lửa trong chiến tranh, gánh trọn đau thương, liệt oanh cho hai đầu đất nước. Lại nhớ đến “Đường ra trận mùa này đẹp lắm. Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây”. Rồi tự hào là vương quốc hang động với Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha-Kẻ Bàng, động Thiên Đường, hang Sơn Đoòng...

Nhưng có một nơi vẫn đang còn hoang sơ lắm: Đường Hồ Chí Minh nhánh phía tây, “chọc thủng Trường Sơn”, khởi đầu từ ngã ba Xuân Trạch (huyện Bố Trạch) qua một loạt các địa danh: Khe Gát, Trạ Ang, U Bò, Tăng Ký, Cầu Khỉ, Sen Bụt, Khe Sanh, Đakrông, đèo Pê Ke, A Lưới, A Đớt, A Tép, Hiên và đến Thạch Mỹ... Đúng vào dịp kỷ niệm 57 năm ngày khai sinh ra con đường huyền thoại, tôi có dịp trải nghiệm hết toàn tuyến Hồ Chí Minh nhánh phía tây trên đất Quảng Bình.

Nếu bạn chọn cho mình hành trình xuyên suốt đường Hồ Chí Minh nhánh tây mà không ghé Xuân Trạch, nơi con đường lịch sử chia làm hai nhánh sẽ là một thiếu sót lớn - ông Nguyễn Xuân Liên, một người lính Hà Nội chính gốc, có những tháng năm gắn bó đất lửa Quảng Bình từng bảo với tôi thế cách đây gần chục năm, khi hai người một già- một trẻ, một đi qua chiến tranh - một sinh sau ngày đất nước thống nhất cùng nhau tìm hiểu hệ thống đường Hồ Chí Minh trên đất Quảng Bình. Lần này, tôi chọn điểm khởi đầu tại Xuân Trạch, với những hoài niệm về một thời.
Dulichgo
Nắng tháng năm đổ hoa lửa xuống khắp mặt đường Hồ Chí Minh nhánh đông ngang qua Xuân Trạch. Ngược dòng lịch sử, sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Xuân Trạch thuộc xã Phúc Nguyên bao gồm 6 phường: Khe Gát, Vực Trô-Đá Chác, Đồng Nghẹn, Troóc, Khe Ngang và Cây Lim thuộc huyện Quảng Trạch. Tháng 6-1947, xã Phúc Nguyên chuyển về huyện Bố Trạch đổi tên thành xã Phúc Trạch. Mãi đến tháng 6-1955, Phúc Trạch mới chia tách thành ba: Phúc Trạch, Lâm Trạch, Xuân Trạch và tồn tại cho đến tận ngày nay.

Về Xuân Trạch, nghe các cụ cao niên trong xã nhắc mãi đến những địa danh một thời: Khe Gát, Vực Trô, Hung Bai, Đá Chác, Bến Lội, Đồng Nghẹn, Ngọn Rào, Ngã Hai... Dân số toàn xã 1.158 hộ, 5.343 khẩu, 66% đồng bào theo đạo công giáo. Gốc gác dân Xuân Trạch khởi nguồn từ các xã Quảng Lộc, Quảng Hòa, Quảng Thủy di cư vào.
Dulichgo
Vì  có “dây mơ rễ má” từ bao đời nay, mối quan hệ gốc rễ vẫn luôn bồi đắp qua những câu chuyện lưu giữ. Giữa hai vụ lúa, cấy, gặt, dân “ngoài làng” (Quảng Lộc, Quảng Hòa, Quảng Thủy) đất chật, người đông phải gửi trâu, bò vào “trong rú”  (Xuân Trạch) nhờ bà con chăm sóc, không nề hà thiệt hơn, tính công, tính cán, chỉ cần vài “vàu” cá buôi nơi Cồn Trữa (Cồn Sẻ, Quảng Lộc) làm quà biếu là ấm lòng.

Những năm mất mùa, đói kém, người “ngoài làng” vào tá túc “trong rú”, bà con thết đãi nhiều thứ “đặc sản”: mít chín, mít non, hột mít luộc, mít muối chua... hạt dẻ, chè xanh xứ Troóc, thuốc lá Ngã Hai, Ngọn Rào. Ngược lại, dân “trong rú” về thăm bà con “ngoài làng” ăn những bữa cơm trắng thảo thơm không độn hạt mít, sắn, ngô, khoai. Chén rượu Quảng Lộc say đượm tình cùng nhiều thứ đặc sản vùng sông nước: cá thiều, cá buôi Cồn Trữa; bánh đúc, bánh tráng Quảng Hòa...

Bí thư Đảng ủy xã Xuân Trạch Hoàng Anh Nhẫn còn kể cho tôi về câu chuyện Ông Khái (cọp) bắt người tại vùng Trộ Rớ. Bởi thế, nhà thơ Xuân Hoàng trong chuyến thực tế về với Phúc-Lâm-Xuân trong thời kỳ chiến tranh phải thốt lên: “Muỗi Khe Gát, vắt Ba Rền/Sên Trạ Ang, cọp Trộ Rớ/Ai qua Quảng Bình/Hẳn lừng danh huyện Bố”.

Nguyên câu chuyện cọp thọt một chân Trộ Rớ bắt người như sau: Khi Nhật đảo chính Pháp vào ngày 9-3-1945, xác lính Pháp bị Nhật giết rải khắp một vùng Khe Sến, cọp bắt đầu ăn thịt xác lính Pháp rồi quen mùi từ đó. Về sau, cọp tìm cách rình rập, bắt người. Một vùng tả ngạn sông Son, Vĩnh Sơn, Troóc, Đồng Bại... đều có người chết vì cọp vồ.

Theo thời gian, cọp càng lộng hành hơn, ban đêm lẻn vào nhà bắt người mang đi. Ban ngày, người dân vào rừng, chỉ cần tách riêng ra, cọp vồ tha tận rừng sâu. Nhân dân trong vùng không ai dám đi rừng một mình. Chiều đến mặt trời chưa tắt hẳn, nhà nhà cửa đóng then cài đề phòng cọp vồ. Nhân dân phải chống chọi cùng lúc hai loại giặc, giặc Tây và giặc cọp.
Một trong những cán bộ Phòng thông tin- Tuyên truyền huyện Bố Trạch là anh Lê Hy bị cọp Trộ Rớ giết hại trong chuyến công tác lên Cao Mại (huyện Tuyên Hóa) năm 1948. Trước đó, anh Trần Hữu Châu, bộ đội địa phương huyện Bố Trạch trên đường đi đánh đồn địch về cũng bị cọp tấn công, mất mạng.

Số phận cọp một chân Trộ Rớ về sau như thế nào, không ai còn nhớ. Nhưng chuyện cọp Trộ Rớ giết hại hàng chục dân lành vẫn là một vết cắt đau thương trong kháng chiến 9 năm chống Pháp, ngoài mất mát do chiến tranh.

Sân bay Khe Gát, di tích lịch sử cấp quốc gia nằm trên đường ngược lên đèo Đá Đẽo qua huyện Minh Hóa. Dân Xuân Trạch từ trẻ con đến người già, thuộc nằm lòng chiến công của Không quân nhân dân Việt Nam khi đưa máy bay Mic17 xuất kích từ sân bay Khe Gát đánh tàu chiến Mỹ ngoài khơi Quảng Bình.
Dulichgo
Sự kiện lịch sử này được chép rành mạch trong Lịch sử Đảng bộ xã Xuân Trạch, tập I (giai đoạn 1930-2010): 16 giờ 5 phút ngày 19-4-1972, biên đội Mic17 gồm hai chiếc do các phi công Lê Xuân Dị, Nguyễn Văn Bảy B được lệnh xuất kích tấn công các tàu khu trục thuộc Hạm đội 7 Mỹ cách cửa biển Nhật Lệ 18 km về phía đông. Khi mục tiêu nằm gọn trong tầm ngắm, bốn quả bom rời thân máy bay rơi trúng đích. Hai tàu khu trục dính bom, trong đó tàu HegBee gần như bị tê liệt hẳn.

Từ khi xuất kích đến khi hai máy bay trở về sân bay Khe Gát an toàn chỉ mất đúng 17 phút. Đây là lần đầu tiên Không quân nhân dân Việt Nam dùng máy bay tiêm kích Mig17 đánh trúng, làm bị thương nặng tàu khu trục Mỹ trên biển Quảng Bình. Sau sự kiện này, tàu chiến Mỹ không dám vào gần bờ biển Quảng Bình ngang nhiên đánh phá như trước đây nữa.

Theo dòng hoài niệm về Xuân Trạch, nơi khởi đầu đường Hồ Chí Minh nhánh tây, cơ may thế nào đó, tôi gặp được vợ chồng ông Trần Trọng Quang, Hoàng Thị Hồng, những nhân chứng sống đi qua một thời lửa đạn. Ông Trần Trọng Quang sinh năm 1930, nguyên xã đội trưởng thời kỳ 1962-1964, bà Hoàng Thị Hồng nguyên cán bộ Hội Phụ nữ xã.

Ông Trần Trọng Quang nhớ lại: “Từ khi hoàn thành hệ thống đường Trường Sơn qua địa bàn xã, Xuân Trạch trở thành túi hứng bom bất kể đêm ngày, thôn Vinh Sơn, HTX Vinh Sơn, nơi có ngầm Bến Lô xe cộ hay qua về thường xuyên bị oanh tạc. Đêm 27-7-1966, máy bay Mỹ ném bom vào khu dân cư, trong đó có một quả bom tạ đánh trúng hầm gia đình anh Nguyễn Luyến làm chết hai vợ chồng, ba người con cùng 2 hàng xóm trú nhờ qua đêm.

Đau thương là thế, nhưng quân và dân Xuân Trạch vẫn anh dũng kiên cường, “Thóc không thiếu một cân. Quân không thiếu một người”, “Xe chưa qua, nhà không tiếc. Đường chưa thông không tiếc máu tiếc công”. Tất cả dồn tiềm lực cho những tuyến đường luôn thông suốt, chi viện chiến trường miền Nam.
Dulichgo
Tôi cùng ông Trần Trọng Quang chầm chậm trở lại nơi ngã ba đường Hồ Chí Minh chia nhánh ngay phía trước trụ sở UBND xã Xuân Trạch. Nắng đỏ lửa, ran rát gió lào thổi bời bời. Tấm bia di tích lịch sử ghi dấu ấn chiến công nơi ngã ba cũng mỏi mòn theo năm tháng. Chỉ có tấm lòng người dân mộc mạc khắc cốt ghi tâm những thăng trầm trên quê hương mình.
Xuân Trạch ngày hôm nay vẫn đang còn nghèo lắm! Tôi cảm nhận rõ điều đó trong nắng tháng năm se thắt, trong ánh mắt mệt nhọc của ông Trần Trọng Quang trước lúc chia tay. Phía trước mặt, đường Hồ Chí Minh nhánh phía tây như một lằn chỉ chạy hun hút sâu vào miền di sản.
(Còn Tiếp)

Trường Sơn bên nắng, bên mưa - Bài 1: Xuân Trạch-ngày của hoài niệm
Trường Sơn bên nắng, bên mưa - Bài 2: Giữa lòng di sản
Trường Sơn bên nắng, bên mưa - Bài 3: Làng Mô
Trường Sơn bên nắng, bên mưa - Bài 4: Làng Ho
Trường Sơn bên nắng, bên mưa - Bài cuối: Lời của gió nơi ngã ba Dân Chủ

Theo Ngô Thanh Long (Báo Quảng Bình)
Du lịch, GO!

Núi Hứa - Di tích “3 trong 1”

By On tháng 9 01, 2017
(BQN) - Núi Hứa sở dĩ được gọi là di tích “3 trong 1” bởi hội tụ trong nó không chỉ là giá trị về mặt khảo cổ, lịch sử mà còn là vẻ đẹp đáng ngưỡng mộ của cảnh quan tự nhiên. Đây được xem là di tích độc đáo bậc nhất với Quảng Ninh nói riêng và trong cả nước nói chung.

Theo những cụ già cao tuổi ở thôn Làng Ruộng (xã Đại Bình, Đầm Hà) thì cái tên núi Hứa đã được gọi từ lâu đời rồi. Còn theo sách Đại Nam nhất thống chí, núi Hứa có tên là đảo Hòn Hứa: “Đảo Hòn Hứa ở cách châu Vạn Ninh 72 dặm về phía Tây - Nam, ở giữa biển nổi vọt đứng sừng sững tròn trĩnh, giáp giang phận Đầm Hà, bên tả là núi đất, bên hữu là dân cư”.

Núi Hứa có 3 khu vực chứa đựng những giá trị khác nhau nên lịch sử hình thành phát triển, sự kiện nhân vật cũng khác nhau.

Di tích khảo cổ nơi đây được phát hiện trong đợt khảo sát đầu tháng 5-1999, căn cứ vào kết quả điều tra điền dã bề mặt di tích và nghiên cứu hiện vật được phát hiện tại đây thì có thể hình dung là cách đây khoảng 7.000 đến 6.000 năm, cư dân cổ thuộc trung kỳ đá mới, đồng đại với cư dân hang Soi Nhụ, hang Nhà Trò (huyện Vân Đồn), hang Tiên Ông (TP Hạ Long)... đã tụ cư tại đây. Khi đó, mực nước biển còn thấp, bờ biển cách xa khu vực núi Hứa hàng chục km.

Toàn bộ vũng bãi triều hiện nay là một đồng bằng nhỏ cửa sông, ven biển. Cư dân ở đây sinh sống dựa vào nguồn thức ăn từ hệ động, thực vật núi Hứa và nguồn thuỷ sản ở các sông, suối nhỏ xung quanh.


< Toàn cảnh núi Hứa nhìn từ trên cao.
Dulichgo
Sau đó, vào giai đoạn sớm của Hậu kỳ đá mới, cư dân núi Hứa đã mở rộng không gian sinh sống sang vùng Hòn Ngò (tức Hòn Bờ Ngò, thôn Hà Tràng, xã Đông Hải, huyện Tiên Yên). Quá trình sinh sống đã để lại các dấu tích khảo cổ như công cụ, đá nguyên liệu v.v.. còn khá dày đặc trên bề mặt của di tích ở núi Hứa và hòn Ngò.

Cách đây khoảng 6.000 năm, do biển tiến nên cư dân Hòn Ngò, núi Hứa phải dịch chuyển đến vị trí khác để sinh sống. Nước biển dâng cao làm ngập toàn bộ khu cư trú của người cổ, sóng biển và thuỷ triều đã xâm thực các tầng văn hoá làm cho các di vật bị chìm dưới lớp bùn biển, tạo ra hiện trạng di tích ngày nay.

Theo ông Trần Trọng Hà, Giám đốc Bảo tàng tỉnh nhận định thì đây là di tích khảo cổ rất hiếm có, trên cả nước chỉ có 2 di tích có loại hình tương tự là di tích Giáp Khẩu (TP Hạ Long) và Hòn Ngò (Tiên Yên).

Núi Hứa về tự nhiên có vị trí rất cơ động về quân sự nên đã được chọn làm căn cứ cho các lực lượng cách mạng trong suốt cuộc kháng chiến từ 1947 đến 1954. Núi có hang Hố Đen nằm giữa một thung lũng sâu, đường đi độc đạo, cây rừng rậm rạp, nên việc phòng thủ bảo vệ đều rất thuận lợi. Đây là địa thế một người chống được trăm người, tiến có thể đánh ra khu vực Đại Bình, Đầm Hà; thoái có thể rút lên khu vực rừng núi Dực Yên hoặc đi ra núi Cuống, ra biển.
Dulichgo
Căn cứ này còn có mối quan hệ và phối hợp với các căn cứ kháng chiến khác trong tỉnh Hải Ninh hình thành một vành đai các căn cứ kháng chiến, tạo thế và tạo lực phá vỡ “Vành đai xứ Nùng tự trị”, góp phần quan trọng đánh bại thủ đoạn “chia để trị, cô lập rồi tiêu diệt” của thực dân Pháp và tay sai.


< Đàn cò hàng nghìn con tạo nên cảnh quan rất sinh động cho di tích núi Hứa.

Truyền thống cách mạng của cán bộ, chiến sĩ trong căn cứ Hố Đen núi Hứa năm xưa đã trở thành cơ sở quan trọng để xã Đại Bình hôm nay được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Không chỉ có giá trị về văn hoá, núi Hứa lại độc đáo hơn ở chỗ, nơi đây có rừng cò với hàng ngàn con cò sinh sống, tạo ra một cảnh quan hết sức sinh động. Khu rừng tre nơi đây đã được đàn cò về trú ngụ từ cuối những năm 70, sau này do điều kiện khí hậu, thức ăn dồi dào, chúng phát triển nhanh hơn. Cùng với đó, nhờ sự chăm sóc, bảo vệ của gia đình ông Phạm Văn Hà, hiện đang canh tác đất lâm nghiệp ở đây nên vườn cò ngày càng thu hút nhiều loài cò về cư trú, sinh sản và phát triển.

Ngoài ra, trên núi còn có các loài cây rừng nguyên sinh như tre, trám, dẻ, trâm, táu, trẹo, sắn thuyền, các loại dây leo, cây bụi và các loại cây thuốc quý như ba kích, chân chim, linh chi... chứng tỏ cách đây hàng nghìn năm, núi Hứa là một cánh rừng nguyên sinh rậm rạp, phục vụ tốt nhu cầu sinh sống của con người.


< Cò trên đỉnh núi Hứa.

Cùng với đó, nơi đây cũng từng có nhiều loài thú như: Hổ, báo, gấu, hươu, nai, chuột, nhím và các loài chim, đặc biệt, hiện ở các khe suối của núi Hứa còn có loài ốc suối (melania) là thức ăn rất được ưa thích của cư dân văn hoá Hoà Bình...
Dulichgo
Với nhiều giá trị đặc biệt như vậy, núi Hứa - vườn Cò cho thấy tiềm năng giàu có để phát triển du lịch của địa phương. Vừa qua, di tích núi Hứa đã được thông qua hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích cấp tỉnh, đây là điều kiện thuận lợi giúp cho việc bảo tồn và phát huy các giá trị của di tích “3 trong 1” này ngày càng tốt hơn.

Theo Ngọc Mai (Báo Quảng Ninh)
Du lịch, GO!

Đánh thức tiềm năng du lịch Đầm Hà

Thành cổ nghìn năm tuổi Luy Lâu

By On tháng 9 01, 2017
(TTO) - Dù biết Luy Lâu là vùng văn hóa cổ thuộc hàng bậc nhất trên đất nước Việt Nam, song chúng tôi cứ đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác trong một ngày khám phá. Chúng tôi may mắn được anh Nguyễn Thế Trung, một thanh niên địa phương chuyên ngành điêu khắc, khá am tường và rất yêu văn hóa cổ dẫn đi. Những dấu ấn vật chất cổ xưa còn lại ở nơi đây, ngay cả “hướng dẫn viên” Thế Trung cũng tiếp tục bất ngờ.

Dấu xưa thành cổ

Bắt đầu từ phố Dâu (huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh), anh Thế Trung dẫn chúng tôi trên con đường bêtông vòng vèo qua mấy thôn xóm của làng Lũng Khê. “Chúng ta đã đến thành Luy Lâu rồi!” - anh nói khi đang đi ngang một xóm nhà san sát, mấy vườn rau và một khu nghĩa địa đầy mồ mả. Kế đó là tấm biển cũ kỹ: “Khu di tích lịch sử văn hóa quốc gia thành cổ Luy Lâu, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh”.

Điểm đầu tiên chúng tôi đến là đền thờ Sĩ Nhiếp nằm giữa một vườn nhãn um tùm, được giới thiệu là trung tâm tòa thành Luy Lâu xưa. Bước qua cây cầu đá cổ vẹn nguyên, tuyệt đẹp bắc ngang hồ nước rộng, ngôi đền theo lối kiến trúc cổ, quy mô khá lớn nằm ngay giữa sân. Cụ thủ từ mở cửa dẫn chúng tôi vào nội điện và giới thiệu say sưa rằng nhiều nơi người ta thờ Sĩ Nhiếp nhưng đây là ngôi đền duy nhất có thờ tượng ngài. Ngoài cái chuông “linh thiêng từng bị người ta đánh cắp nhiều lần mà phải trả lại”, cụ thủ từ cũng giới thiệu hai tấm bia cổ quý của hai vị vua Nguyễn...
Dulichgo
Cụ thủ từ khoe khu vực này đã được các nhà chuyên môn trong và ngoài nước khai quật nhiều lần, thu được hàng ngàn hiện vật bằng gốm sứ, đá và kim loại quý giá. Điều đặc biệt nhất trong các hố đào ở khu trung tâm cổ thành này chính là sự xuất lộ những mảnh khuôn đúc của trống đồng, nhiều mảnh trong đó khắc âm hình con chim Lạc và hình ảnh của người Việt xa xưa…

Chúng tôi tiếp tục khám phá tòa thành cổ Luy Lâu; trải qua gần 2.000 năm, ngôi thành được cho là làm bằng đất này phần lớn đã thành bình địa; nhiều đoạn nằm dưới nền móng xóm làng, nhà cửa, thậm chí có chỗ đã biến thành đồng ruộng của dân làng Lũng Khê. Thật may mắn, nằm ven dòng sông Dâu còn một đoạn thành khá dài, nhô cao chừng nửa mét, đang mọc đầy cây bạc hà trắng và tràm hoa vàng… Tôi cố hình dung tòa thành ngày xưa và cảnh tấp nập sinh hoạt, mua bán của người nghìn năm trước tại tòa thành trung tâm của một vùng rộng lớn như thế nào. Chợt anh Thế Trung gọi giật: “Ở đây có nhiều gạch cổ!”. Cào nhẹ lớp đất, những mảng gạch xưa lộ ra, khi cầm lên bấm nhẹ thì mủn nát trên tay. Rất có thể những viên gạch này thuộc một công trình kiến trúc hay một đoạn tường thành nào đó, bị ngâm mưa ngâm nắng lâu ngày nhũn ra thành đất. Vạn sự biến hóa, vật đổi sao dời, ngót nghét 2.000 năm rồi còn gì…

Nhiều văn vật cổ quý

Chúng tôi tiếp tục được dẫn đến tấm bia cổ nhất VN đang được dựng ở làng Thanh Hoài, cạnh đền thờ Sĩ Huy, con trai của Sĩ Nhiếp, cách trung tâm thành cổ chưa đầy cây số. Đây là tấm bia sớm nhất tại VN đến thời điểm này, có niên đại từ năm 314 đến năm 450.

Còn nhớ vào năm 2004, tại chùa Xuân Quan cạnh thành Luy Lâu, một người dân đào được tấm bia Xá lợi tháp minh có từ năm 601, thời điểm ấy là minh văn sớm nhất VN, được công nhận bảo vật quốc gia sau đó. Hai tấm bia nói trên là hai văn vật có minh văn sớm bậc nhất của lịch sử VN, giữ vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu văn hóa Việt đầu thời kỳ lịch sử; được tận mắt chứng kiến mà lòng xúc động vô ngần.

Chúng tôi tiếp tục ghé di tích quốc gia đặc biệt chùa Dâu, ngôi chùa cổ rất nổi tiếng có từ buổi đầu Công nguyên. Kiến trúc gỗ của ngôi chính điện được anh Trung giới thiệu dựng lại dưới thời Nguyễn, nhưng điều đặc biệt còn giữ một số thành phần kiến trúc có từ thời Trần rất quý giá. Nhưng quý giá hơn cả chính là hệ thống tượng thờ ở điện Tam bảo.
Dulichgo
Với con mắt nhà nghề điêu khắc, anh Trung lưu ý hai pho tượng hầu nữ của tượng chính Pháp Vân, được xem là tuyệt tác điêu khắc có từ nhiều thế kỷ trước. Kế đến, nhóm tượng các vị tăng sư rất đẹp và có thần thái đang được thờ ở một ngôi thất sau chùa khiến Trung cứ xuýt xoa hoài, cho dù có tuần anh ghé thăm đến vài lần…

Điều bất ngờ nhất của chúng tôi tại chùa Dâu chính là tượng con cừu đá cổ cạnh chân tháp Hòa Phong, nó quá đẹp, quá đặc biệt và quá lạ lẫm trong văn hóa VN. Theo anh Trung, tương truyền nguyên đôi cừu là quà tặng của một người Ấn cho thái thú Sĩ Nhiếp.

Sau khi vị thái thú qua đời, đôi cừu lang thang nhiều nơi và bị người dân đánh đuổi. Một con chạy về nằm ở chùa Dâu với một vết chém còn hằn trên lưng. Con còn lại thì về chầu bên mộ vị thái thú...

Đi theo câu chuyện hoang đường, chúng tôi về làng Tam Á cách đó chừng 3km xem thêm tượng cừu kỳ lạ. Bước qua cổng tam quan tuyệt đẹp vào sân, ngôi điện chính đóng cửa im lìm, chúng tôi theo đường bêtông nhỏ và gặp ngay tượng con cừu đá y hệt tượng ở chùa Dâu.

Đúng là con này đang “chầu” phần mộ thái thú Sĩ Nhiếp, được đắp đất rất lớn, có tường bao quanh quy mô…

Ở khu vực Luy Lâu hiện còn nhiều ngôi chùa cổ rất đáng tham quan. Đó là chùa Phi Tướng (trung tâm thành cổ), chùa Xuân Quan, chùa Tổ Mãn Xá, đều nằm trong nhóm những ngôi chùa thờ hệ thống tứ pháp (Pháp Vân - thờ nữ thần Mây; Pháp Vũ - thờ nữ thần mưa; Pháp Lôi - thờ nữ thần sấm; Pháp Điện - thờ nữ thần chớp và Phật mẫu Man Nương) có từ nghìn năm trước. Cách thành không xa là di tích quốc gia đặc biệt chùa Bút Tháp, nơi có tháp đá Báo Nghiêm và kiệt tác tượng Phật bà Quan Âm nổi tiếng.

Ngoài ra, khu di tích lăng và đền thờ thủy tổ Kinh Dương Vương gần đó cũng là nơi du khách nên đến.
Dulichgo
Thành Luy Lâu nằm cách Hà Nội chừng 30km, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và tôn giáo đầu tiên của nền văn minh sông Hồng, hình thành khoảng hơn 2.000 năm trước và phát triển không ngừng trong nhiều thế kỷ. Vùng đô thị cổ này gắn liền với tên tuổi của Sĩ Nhiếp - người đưa Nho giáo vào VN và thực hành rất nhiều chính sách phát triển tại xứ Giao Châu nơi mình cai trị... Ông được hậu thế tôn làm Nam Giao học tổ và người dân thờ tự nhiều nơi... Luy Lâu cũng được biết đến là trung tâm Phật giáo lớn và cổ xưa nhất của người Việt, là điểm dừng quan trọng trên con đường truyền bá của đạo Phật từ Ấn Độ sang các nước...

Theo Thái Lộc (Báo Tuoitre)
Du lịch, GO!

Cổ tích đất Luy Lâu

Cháo chua của người K’ho - Lâm Đồng

By On tháng 9 01, 2017
(TH) - Đến Langbiang, ghé qua xã Lát là nơi sinh sống của rất nhiều đồng bào dân tộc K’ho.

Ở đây bạn sẽ được thưởng thức món cháo chua của người K’ho, hơi giống cái rượu ở ngoài Hà Nội nhưng mùi vị đặc biệt hơn vì được làm bằng gạo nếp ủ từ tháng mười cho đến tháng ba đã lên men, ăn vừa chua vừa ngọt. Người K’ho coi cháo chua như một “tiên dược” giúp họ luôn dẻo dai và cường tráng.

Hạt gạo lúa nương chính là kết quả cửa sự chăm chỉ, cần mẫn của bà con đồng bàu dân tộc K’ho được vung trồng ở vùng đất đỏ nên có vị thơm dẻo lạ miệng so với gạo ở đồng bằng.

Khi chế biến thì thứ gạo quý này được cho vào nồi nấu chín. Mùi hương của cháo gạo toả mùi thơm ngát làm ấm lòng giữa cái se lạnh của núi rừng đại ngàn lộng gió lúc mặt trời xuống núi.
Dulichgo
Sau khi cháo chín nhừ thì người ta cho thêm chút muối để nồi cháo thêm đậm vị. Sau đó người dân mới múc cháo đổ vào những trái bầu khô (quả bầu dùng để đựng thức ăn của bà con đồng bào) rồi mới đậy lại treo lên vách nứa nhà sàn. Cứ như thế đợi đến tháng ba năm sau vào thời điểm phát nương, thì mỗi buổi sáng lên rẫy, thì ai cũng mang theo quả bầu đựng món cháo chua bên cạnh mấy con cá khô, vài trái ớt, quả cà để ăn cùng sau những giờ làm việc đồng án trên nương.

Theo quan niệm của người K’ho là một món ăn bổ dưỡng. Cháo có vị chua xen vị ngọt, có mùi của men rượu. Cháo chua vừa là thứ nước uống để giải khát, vừa chống cảm nắng, tăng sức đề kháng cơ thể. Đây là món ăn rất độc đáo và khó quên.
Dulichgo
Cháo chua còn là món ăn mang đậm tín ngưỡng dân tộc K’ho, điều này được thể hiện qua nhiều giai thoại. Tương truyền món ăn chính là do  thần linh ban tặng giúp người dân K’ho có thêm sức khoẻ để chống đỡ với thiên nhiên khắc nghiệt. Do đó khi có dịp lên vùng Lâm Đồng và ghé qua bản làng K’ho  nếu bạn được mời món cháo chua chính là sự nhiệt tình hiếu khách của người dân mà bạn đừng nên chối từ.

Du lịch, GO! tổng hợp

Popular